ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG CAO ĐẲNG BÁCH KHOA NAM SÀI GÒN GIÁO TRÌNH MÔN HỌC/MÔ ĐUN: VĂN HÓA TRONG DU LỊCH NGÀNH/NGHỀ: HƯỚNG DẪN DU LỊCH TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-. ngày ………tháng. năm…… của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn Tp. Hồ Chí Minh, năm 2021 TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình Văn hóa Việt Nam trong du lịch của khoa Du lịch – Khách sạn thuộc Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn, là tài liệu lưu hành nội bộ của ngành hướng dẫn du lịch ở trình độ cao đẳng liên thông, nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dẫn dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo trong họat động giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên thuộc khoa Du lịch – Khách sạn trong trường.
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm. 1 LỜI GIỚI THIỆU Tài liệu Văn hóa Việt Nam trong du lịch là một tài liệu lưu hành nội bộ dùng cho việc học tập và giảng dạy môn Văn hóa Việt Nam trong du lịch của thầy và trò ngành cao đẳng hướng dẫn du lịch, thuộc khoa Du lịch – Khách sạn trường Cao dẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn. Giáo trình này viết dựa vào những bài giảng, giáo trình của các trường cao đẳng và đại học thuộc ngành du lịch ở trong nước và có một phần dựa vào các tài liệu chuyên ngành văn hóa. Với mong muốn có một tập tài liệu sát với thực tế, sát với chương trình chi tết để thuận lợi trong việc học tập và giảng dạy.
Được khoa du lịch - khách sạn của trường Cao Đẳng bách khoa Nam Sài Gòn phân công, chúng tôi đã cố gắng hoàn thành giáo trình này. Chúng tôi mong muốn nhận được sự góp ý để tập tài liệu này ngày càng hoàn thiện, mong góp phần vào công việc dạy và học được tốt hơn nữa. Qua đây chúng tôi xin cảm ơn nhà trường và khoa đã tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành tài liệu giáo trình này. Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 8 năm 2021 Tham gia biên soạn 1.
Chủ biên Th.Lưu Văn Sơn 2 MỤC LỤC Trang Lời giới thiệu. 2 Bài 1: Khái niệm và cơ cấu về văn hóa. Khái niệm văn minh. Khái niệm văn hiến.
Khái niệm văn vật. 15 Bài 2: Văn hóa một số tộc người thiểu số ở Việt Nam. Người Khơ Me. Người Chăm.
Người Bana. Người Cờ Ho. Người Tày. Người Nùng.
Một số tộc người khác. 38 Bài 3: Tín ngưỡng và tôn giáo trong văn hóa Việt Nam. 102 Tài liệu tham khảo. 109 4 Tên môn học/mô đun: Văn hóa Việt Nam trong du lịch Mã môn học/mô đun: MH09 Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học/mô đun: - Vị trí: Văn hóa Việt Nam trong du lịch là môn học bắt buộc thuộc các môn học đào tạo nghề trong chương trình liên thông cao đẳng nghề Hướng dẫn du lịch.
- Tính chất: Văn hóa trong du lịch là môn học lý thuyết đánh giá kết quả bằng kiểm ta hết môn. Mục tiêu của môn học/mô đun: - Về kiến thức: Nắm vững kiến thức về văn hóa, những giá trị tiêu biểu văn hóa của Việt Nam, của các vùng miền trong hoạt động du lịch, phục vụ du khách. - Về kỹ năng: Nhận thức rõ những giá trị làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam và vận dụng vào công việc hướng dẫn viên du lịch. - Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Có năng lực nhận thức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập.
-Ý nghĩa và vai trò của môn học/mô đun: Giúp sin viên nắm được văn hóa Việt Nam liên quan tới hoạt động du lịch để sau này vận dụng vào công việc hướng dẫn du lịch. 5 Nội dung của môn học/mô đun: BÀI 1: KHÁI NIỆM VÀ CƠ CẤU VỀ VĂN HÓA Giới thiệu: Bài 1 giới thiệu các khái niệm về văn hóa, văn minh, văn hiến, văn vật, cơ cấu về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Bài này là tiền đề để những bài sau đi tìm hiểu các vấn đề văn hóa liên quan tới hoạt động du lịch. Mục tiêu: Giúp cho sinh viên phân biệt các khái niệm về văn hóa, văn minh, văn hiến, văn vật, cơ cấu văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần.
Qua bài này học sinh viên có thể vận dụng những kiến thức trong bài vào bài thuyết trình của mình trên lớp và hoạt động hướng dẫn du lịch sau này. Nội dung chính: Bài 1: Khái niệm và cơ cấu về văn hóa 1.Khái niệm văn hóa Từ văn hóa có rất nhiều nghĩa. Trong tiếng Việt văn hóa văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa, lối sống, nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn hóa của một giai đoạn như văn hóa Đông sơn. - Văn hóa theo nghĩa rộng: là hoạt động sáng tạo của con người trong lĩnh vực vật chất và tinh thần 6 - Văn hóa theo nghĩa hẹp: Là các nhu cầu thiết yếu, các giá trị nhân văn, các công trình kiến trúc, lối sống, tập tục, tín ngưỡng, các quyền cơ bản của con người,.
qua đó thể hiện trình độ phát triển của xã hội của thời đại. - Văn hóa làm cho con người có lý tính, có óc phê phán và sống có đạo đức. - Có nhiều khái niệm về văn hóa, mỗi tổ chức văn hóa, mỗi nhà nghiên cứu văn hóa, họ đưa ra các khái niệm, định nghĩa về văn hóa dựa trên quan điểm, và góc độ nghiên cứu của họ. Sau đây là một số khái niệm về văn hóa: + Khái niệm văn hóa của Giáo sư Trần Ngọc Thêm: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và trích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.
+ Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng: Văn hóa là bộ mặt xã hội, bộ mặt của con người, diện mạo bên trong phong cách bên ngoài và những phẩm chất cao quí của nó. + Các học giả Mỹ thế kỷ XX cho rằng: Văn hóa là tấm giương nhiều mặt, nó phản chiếu đời sống, nếp sống của một cộng đồng dân tộc. Vì vậy: Văn hóa là toàn bộ những sáng tạo, hoạt động có ích cho con người. + Theo UNESCO: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt và tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội.
Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của cong người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một 7 cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩ mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân. + Chủ Tịch Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm văn hóa “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoại hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Khái niệm văn minh Văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hoá về phương diện vật chất; đặc trưng cho một khu vực rộng lớn; một thời đại; hoặc cả nhân loại. Như vậy; văn minh khác với văn hoá ở ba điểm: Thứ nhất, trong khi văn hoá có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại.
Thứ hai, trong khi văn hoá bao gồm cả văn hoá vật chất lẫn tinh thần thì văn minh chỉ thiên về khía cạnh vật chất, kĩ thuật. Thứ ba, trong khi văn hoá mang tính dân tộc rõ rệt thì văn minh thường mang tính siêu dân tộc - quốc tế. Ví dụ nền văn minh tin học hay văn minh hậu công nghiệp và văn hoá Việt Nam; văn hoá Nhật Bản; văn hoá Trung Quốc… Mặc dù giữa văn hoá và văn minh có một điểm gặp gỡ nhau đó là do con người sáng tạo ra. Khái niệm văn hiến Văn hiến (hiến = hiền tài) – truyền thống văn hoá lâu đời và tốt đẹp.
Đào Duy Anh khi giải thích từ văn hiến khẳng định: “là sách vở” và nhân vật tốt trong một đời. Nói cách khác văn là văn hoá; hiến là hiền tài; như vậy văn hiến thiên về những giá trị tinh thần do những người có tài đức chuyển tải; thể hiện tính dân tộc; tính lịch sử rõ rệt. Khái niệm văn vật Truyền thống văn hoá tốt đẹp biểu hiện ở nhiều nhân tài trong lịch sử và nhiều di tích lịch sử. “Hà Nội nghìn năm văn vật”.
Văn vật còn là khái niệm hẹp để chỉ những công trình hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử; khái niệm văn vật cũng thể hiện sâu sắc tính dân tộc và tính lịch sử. Khái niệm văn hiến; văn vật thường gắn với phương Đông nông nghiệp trong khi khái niệm văn minh thường gắn với phương Tây đô thị.Cơ cấu văn hóa Văn hóa thường được chia đôi thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Bên cạnh đó là những cách chia ba, vd: văn hóa vật chất- văn hóa xã hội- văn hóa tinh thần; văn hóa vật chất - văn hóa tinh thần - văn hóa nghệ thuật; sinh hoạt kinh tế - sinh hoạt xã hội - sinh hoạt tri thức. Một số tác giả khác nói đến bốn thành tố như văn hóa sản xuất, văn hóa xã hội, văn hóa tư tưởng, văn hóa nghệ thuật; hoặc hoạt động sinh tồn, hoạt động xã hội, hoạt động tinh thần, hoạt động nghệ thuật,.