Chương 1: Những vấn đề cơ bản về văn hoá cộng đồng 1.Khái niệm văn hoá, khái niệm gần văn hoá và khái niệm cộng đồng 1.1 Khái niệm văn hóa - Theo nghĩa thông dụng, văn hóa dùng đê chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa). - Theo nghĩa chuyên biệt, dùng để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn). - Theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tỉnh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động. * Định nghĩa văn hóa Có rất nhiều định nghĩa về văn hóa: Một học giả Mĩ đã cho rằng “Văn hóa là tắm gương nhiều mặt phản chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo va phat minh đó tức là văn hóa”. Cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tat cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử.cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ với tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh.” Định nghĩa văn hóa của UNESCO: Trong ý nghĩa rộng nhất, “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dẫn thân một cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”. Theo quan niệm của UNESCO có 2 loại di sản văn hóa: - Di sản văn hóa hữu thể: đình, chùa, miéu, lăng, mộ. - Di sản văn hóa vô hình: Âm nhạc, múa, văn chương truyền miệng, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lễ hội.
Cái hữu thể và vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau như thân xác và tâm trí con người. Trên cơ sở phân tích các định nghĩa văn hóa, PGS, TSKH Trần Ngọc Thêm đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa: “ Văn hóa là một hệ thong hữu cơ các giá trị vật chất và tỉnh thân do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình ”. Các khái niệm gần văn hóa - Khái niệm văn mình Văn minh là danh từ Hán- Việt ( văn là vẻ đẹp, minh là sáng), chỉ tia sáng của đạo đức, biểu hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật. Trong tiếng Anh, Pháp, từ sivilisation với nội hàm nghĩa văn minh, có từ căn gốc La Tỉnh là civifas với nghĩa gốc: đô thị, thành phó, và các nghĩa phái sinh: thị đân, công dân.
Văn mình là trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương điện vật chất, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại hoặc cả nhân loại. Như vậy, văn minh khác với văn hóa ở 4 điểm: + Văn hóa có bề đày của quá khứ (tính lịch sử), văn minh là một /4/ cất dong dai, nó cho biết trình độ phát triển của văn hóa ở từng giai đoạn. + Tính giá trị: Trong khi văn hóa chứa cả giá trị vật chất lẫn tỉnh thân, thì van minh chủ yếu thiên về giá trị vật chất mà thôi. + Phạm vi: Văn hóa mang tính đân độc, còn văn minh có tính quốc fế.
+ Nguồn gốc: Văn hóa gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp, còn văn minh gắn bó nhiều hơn với phương Tây đồ thị. - Khái niệm văn hiến 'Văn hiến ( hiến= hiền tài)- truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp. Đào Duy Anh khi giải thích từ “văn hiến” khẳng định: “là sách vở” và nhân vật tốt trong một đời. Nói cách khác, văn là văn hóa, hiến là hiền tài, như vậy văn hiến thiên về những giá trị tinh thần do con người có tài đức chuyên tải, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt.
- Khai niệm văn vật Truyền thống văn hóa tốt đẹp biểu hiện ở nhiều nhân tài trong lịch sử và nhiều đi tích lịch sử. “ Hà Nội nghìn năm văn vật”. Văn vật còn là khái niệm hẹp để chỉ những công trình hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử, khái niệm văn vật cũng thể hiện sâu sắc tính dân tộc và tính lịch sử. VĂN VẬT VĂN HIẾN VĂN HÓA VĂN MINH Thiên về giá trị vật | Thiên về giá trị tỉnh | Chứa cả giá trị vật Thiên về giá trị vật 5 chat than chất lẫn tinh thần chất- kĩ thuật Có bề dày lịch sử Chỉ trình độ phát triển Có tính dân tộc Có tính quốc tê Gắn bó nhiều hơn với Gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp phương Tây đô thị 1.
Khái niệm cộng đông: Cộng đồng là một từ dùng đề chỉ một nhóm người có cùng sở thích hoặc cùng cư trú trong một vùng lãnh thổ nhất định. trong cộng đồng thường có những quy tắc chung được mọi người thống nhất thực hiện. Văn hóa cộng đông là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tỉnh thần do một nhóm người có cùng sở thích hoặc cùng cư trú trong một vùng lãnh thổ nhất định sang tao và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Văn hóa Việt Nam dưới quan niệm là văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa sắc thái văn hóa tộc người được thê hiện ở ba đặc trưng chính: - Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa đạng trên tất cả các khía cạnh, người Việt cùng cộng đồng 54 dân tộc có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và an du trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật. - Sự khác biệt về cầu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, đân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam.
Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng của người Việt chủ đạo với nền văn hóa làng xã và văn minh lua nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Tây bắc và Đông bắc, từ các vùng đất biên viễn của Việt Nam thời dựng nước ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người Chăm ở Nam Trung Bộ, từ những vùng đất mới ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer đến sự đa đạng trong văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên. - Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong trong hàng nghìn năm nay, với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung Quốc và Đông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21, Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại.Loại hình văn hoá 1.Các loại hình văn hóa cơ bản trên thế giới - Văn hóa trồng trọt phương Đông + Môi trường sống của cư dân phương Đông là xứ nóng sinh ra mưa nhiều (ẩm), tạo nên các con sông lớn với những vùng đồng bằng trù phú. Phương Đông thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp. + Những đặc trưng chủ yếu: Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, do sông phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên.
Vd: người Việt Nam mở miệng là ndi “ Jay rời”, “nhờ trời ”,. Về mặt nhận thức, hình thành lỗi tư đuy tổng hợp: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Được mùa lúa thì Ga mua cau, được mùa cau thì dau mùa lúa. - Về mặt tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa sống theo nguyên tắc trọng tình. Lỗi sông trọng tình cảm tat yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ.
+ Lối sống linh hoạt, luôn biến báo cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, dẫn đến triết lí sống Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy. + Con người cư xử bình đẳng, dan chủ với nhau, dẫn đến tâm lí coi trọng cộng đồng, tập thê. + Mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện: tật co giãn giờ giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật.,dẫn tới tệ “đi cửa sau” trong giải quyết công việc: Nhất quen, nhì thân, tam thân, tứ thế.Trọng tình và linh hoạt làm cho tính tổ chức của người nông nghiệp kém hơn so với cư dân nền văn hóa gốc du mục. - Trong ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tông hợp và phong cách linh hoạt còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận.