đặt vấn đề rất sớm tìm hiểu về con người và xã hội. Triết học Ấn Độ cổ, trung đại đi tìm nỗi khổ của con người trong đời sống tâm linh, tìm cách giải thoát con người bằng siêu thoát cá nhân. Triết học Trung Quốc cổ, trung đại đi tìm nguyên nhân biến động, rối loạn xã hội trong bản tính con người. Theo tư tưởng triết học Nho Gia, bản tính con người có thiện, có ác.
Các nhà triết học Phương Tây thời cổ đại như Hêracrít (485- 425 TCN); Platôn (472-347 TCN); Xôcơrát (469- 425 TCN); Đêmôcơrit (460-370 TCN), Arixtốt (384-322 TCN)… bước đầu đã thể hiện phương pháp lịch sử trong nghiên cứu xã hội. Đặc biệt là về ý tưởng xây dựng một thể chế chính trị - xã hội trong đó việc quản lý nhà nước phải do các nhà triết học và khoa học đảm trách. Một số nhà triết học thời Trung cổ đã giải thích lịch sử theo quan niệm thần học như Ôguytxtanh (354- 430), Phôma Acvinxki. Theo họ, lịch sử xã hội là sự thể hiện của “mệnh trời”; cuộc sống của xã hội loài người là một tấm bi kịch của cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác.
Đến thời kì Phục Hưng, trong tư tưởng của một số nhà triết học đã có những yếu tố triết học lịch sử. Điều đó được thể hiện trong quan điểm của các nhà triết học cùng với các nhà nghiên cứu văn hoá lịch sử khác. Họ tìm cách thoát khỏi quan điểm thần học, cố gắng xem xét lịch sử xã hội một cách tổng quan nền văn hoá lịch sử, đi sâu vào khía cạnh tinh thần của cá nhân con người. 4 Hécđơ (1744 - 1803) coi sự phát triển xã hội là tiếp tục lịch sử tự nhiên.
Xã hội là một chỉnh thể, quy luật xã hội cũng mang tính chất tự nhiên và bản tính con người gắn với xã hội. Rútxô (1712 - 1778) chứng minh rằng sở hữu tư nhân là nguyên nhân của bất bình đẳng, của đối kháng xã hội và của sự xuất hiện nhà nước. Ông coi sự vận động xã hội diễn ra theo một trật tự tự nhiên, trong dó mọi người đều có quyền bình đẳng. Đặc biệt, ông có tư tưởng về biện chứng giữa tiến bộ và thoái bộ, giữa bình đẳng và bất bình đẳng trong tiến trình lịch sử, về một xã hội lý tưởng với một nền dân chủ trực tiếp và một nhà nước tất cả quyền lực thuộc về nhân dân…Xanh xi mông (1760 - 1825) đã bảo vệ quan điểm về sự phát triển có quy luật của lịch sử; về tác dụng của chế độ tư hữu và giai cấp trong sự phát triển xã hội; về mục đích giải phóng giai cấp công nhân; về tư tưởng nền sản xuất có kế hoạch là cơ sở của chế độ xã hội tương lai.
Trong triết học cổ điển Đức đã có những yếu tố biện chứng về lịch sử. Tiêu biểu là tư tưởng triết học của Hêghen (1770 - 1831). Theo Hêghen, toàn bộ lịch sử là sự tự phát triển của “lý tính trong lịch sử” nhằm mục đích nhận thức “tinh thần thế giới”. Biện chứng của lịch sử xã hội là sự chuyển hoá lẫn nhau của cái ngẫu nhiên và cái tất nhiên.
Sự vận động của lịch sử là quá trình được cấu thành từ hành động của những cá nhân theo đuổi những mục đích và lợi ích riêng. Quá trình tự nhận thức “tinh thần thế giới” trải qua những giai đoạn phát triển ứng với trình độ của ý thức về tự do. Hêghen còn đi gần đến quan niệm duy vật lịch sử về bản chất của lao động, về ý nghĩa của lao động đối với sự hình thành con người và xã hội. Phoiơbắc phủ nhận quan niệm cho rằng, Thượng đế sáng tạo ra con người.
Ông cho rằng, môi trường hoàn cảnh có tác động to lớn đến ý thức con người nhưng không nhận thấy bản chất xã hội của con người và vai trò hoạt động thực tiễn trong nhận thức, cải tạo thế giới của con người. Triết học duy vật nhân bản của Phoiơbắc là không triệt để, duy vật về tự nhiên nhưng duy tâm về xã hội. Trong tư tưởng triết học của Phoiơbắc con người được xem xét một cách trừu tượng, phi lịch sử, tách rời khỏi các quan hệ xã hội. Như vậy, lịch sử tư tưởng triết học trước Mác đã có những tư tưởng triết học xã hội có giá trị, làm tiền đề, điều kiện để triết học mácxít kế thừa, phát triển quan niệm duy vật lịch sử.
Tuy nhiên, do hạn chế lịch sử và các nguyên nhân khác nhau, các nhà triết học trước Mác đã giải thích lịch sử trên lập trường duy tâm, định mệnh. Họ đi tìm nguyên nhân của sự phát triển lịch sử ở tư tưởng; coi 5 cá nhân, anh hùng quyết định sự phát triển lịch sử. Từ đó, họ quy tính tích cực của con người vào hoạt động tinh thần và tìm biện pháp cải tạo xã hội ở lĩnh vực tinh thần. Khuyết điểm chung của các nhà triết học duy vật trước Mác là phương pháp tư duy siêu hình trong xem xét bản chất con người và xã hội.
Họ quy bản chất con người vào bản tính tự nhiên, tộc loại của các cá nhân riêng biệt. Phương pháp tư duy siêu hình đã dẫn đến tuyệt đối hoá vai trò của hoàn cảnh địa lý trong sự phát triển xã hội hoặc áp dụng quy luật tự nhiên, sinh học một cách máy móc vào đời sống xã hội. Đặc biệt, trong xem xét bản chất con người và xã hội, các nhà triết học trước Mác đã thiếu tính thực tiễn, không xuất phát từ thực tiễn, không hiểu vai trò hoạt động thực tiễn có tính cách mạng của con người. Sự sáng tạo của C.Ăngghen về chủ nghĩa duy vật lịch sử C.Ăngghen đã xuất phát từ thực tiễn xã hội, trực tiếp là thực tiễn đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân để sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Hoạt động thực tiễn của C.Ăngghen là một điều kiện quan trọng trong sự hình thành các quan điểm duy vật lịch sử của hai ông. Tuy nhiên, bước chuyển lập trường từ duy tâm sang duy vật, từ dân chủ cách mạng sang cộng sản chủ nghĩa của C.Ăngghen có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành các quan điểm duy vật lịch sử. Con đường nghiên cứu của C.Mác là từ nghiên cứu kiến trúc thượng tầng xã hội dẫn đến tất yếu tìm nguyên nhân trong đời sống vật chất của xã hội. Trong khi đó, Ph.Ăngghen lại xuất phát từ nghiên cứu cơ sở kinh tế, đi đến phê phán chế độ tư hữu, tìm hiểu về kiến trúc thượng tầng của xã hội.
Điểm gặp nhau của hai ông là cùng bắt đầu từ sự phát hiện ra vai trò lịch sử của giai cấp vô sản. Tiền đề nghiên cứu triết học của C.Ăngghen là xuất phát từ con người hiện thực, sống, hoạt động thực tiễn. Đây là điểm khác căn bản của hai ông trong nghiên cứu về lịch sử so với quan điểm triết học duy tâm, siêu hình. Lôgic lý luận của C.Ăngghen là đưa thực tiễn vào triết học, có quan niệm đúng đắn về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với đời sống xã hội.
Từ đó giải đáp được những bí ẩn, bế tắc của mọi lý luận triết học cũ. Đặc biệt, hai ông lý giải một cách khoa học trên lập trường duy vật biện chứng mối 6 quan hệ giữa vật chất và ý thức; mối quan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội; luận giải được vai trò của sản xuất vật chất và chỉ ra những quy luật vận động phát triển của xã hội loài người, thực chất nó là những quy luật phản ánh hoạt động thực tiễn của con người trong lịch sử. Những luận điểm xuất phát của quan niệm duy vật lịch sử được C.Mác tóm tắt trong tác phẩm “Lời tựa góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”. Nguyên lý đầu tiên của chủ nghĩa duy vật lịch sử là sản xuất vật chất, đây là cơ sở, nền tảng của sự tồn tại và phát triển đời sống xã hội.
Tiền đề mọi lịch sử xã hội là con người hiện thực, con người thực tiễn, trước hết là thực tiễn lao động sản xuất. Sản xuất vật chất là phương thức cơ bản biểu hiện bản chất con người và lối sống xã hội. Phép biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là chìa khoá để nhận thức quy luật xã hội cùng với phép biện chứng quan hệ vật chất và quan hệ tư tưởng, từ đó thấy sự phát triển xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên. Biện chứng giữa tính thứ nhất của tồn tại xã hội và tính thứ hai của ý thức xã hội cho thấy, xã hội là hình thái vận động khách quan - chủ quan của vật chất.
Thừa nhận tính quy luật của sự phát triển xã hội, vai trò chủ thể của quần chúng nhân dân trong việc sáng tạo ra mọi quá trình lịch sử. là những luận điểm quan trọng nhất phản ánh bản chất của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Như vậy, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử triết học nhân loại. Bản chất của chủ nghĩa duy vật lịch sử Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống triết học duy vật biện chứng về xã hội, một bộ phận hợp thành triết học Mác, làm cho triết học Mác sâu sắc, hoàn bị và triệt để.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu xã hội với tính cách là một chỉnh thể. Xã hội là một bộ phận đặc biệt của tự nhiên, lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng. Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu đời sống xã hội với tính cách là một chỉnh thể, vạch ra những quy luật, những động lực chung nhất của sự vận động, phát triển xã hội. Đời sống xã hội với tính cách một chỉnh thể là khách thể nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Xã hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất, là nấc thang phát triển cao nhất của các hệ thống sống, là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người với người. Xã hội tồn tại dưới những hình thái kinh tế 7 - xã hội cụ thể, hoặc những xã hội riêng biệt, cụ thể gắn liền với mỗi dân tộc, mỗi thời đại nhất định). Con người là sự phát triển cao nhất của tự nhiên, là chủ thể của lịch sử, và bằng hoạt động của mình con người làm ra lịch sử, tạo ra xã hội. Xã hội là một chỉnh thể bao gồm sự tồn tại của con người cá nhân và các tập hợp người; sự tồn tại của các phương thức, cách thức quan hệ giữa người với người.