BỘ XÂY DỰNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ XÂY DỰNG GIÁO TRÌNH MÔN HỌC: TRẮC ĐỊA NGHỀ: KỸ THUẬT XÂY DỰNG TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP, CAO ĐẲNG 1 1 LỜI NÓI ĐẦU Sự phát triển của nền đại công nghiệp trong đó có ngành điện năng, luyện kim. đã đặc cho ngành trắc địa công trình nhiều nhiệm vụ: Trắc đạc phải đi đầu trong việc khảo sát, thi công, lắp ráp, và nghiệm thu các công trình xây dựng. - Trong quy hoạch, thiết kế và xây dựng công trình: Đối với ngành xây dựng, trắc đạc luôn giử vị trí quan trọng hàng đầu, có thể thấy rỏ điều này khi nghiên cứu các giai đoạn để thực hiện một công trình: một con đường quốc lộ, một chiếc cầu, một trạm thủy điện, một chung cư. Để thực hiện được một công trình trên mặt đất, công việc phải lần lượt trải qua 5 giai đoạn qui hoạch, khảo sát, thiết kế, thi công và nghiệm thu: + Ở giai đoạn qui hoạch : Thí dụ qui hoạch thủy lợi người kĩ sư phải sử dụng những bản đồ tỉ lệ nhỏ, trên đó sẽ vạch ra các phương án xây dựng công trình, vạch ra kế hoạch tổng quát nhất về khai thác và sử dụng công trình.
+ Ở giai đoạn khảo sát : người kĩ sư phải biết đề xuất các yêu cầu đo vẽ bản đồ tỉ lệ lớn tại những khu vực ở giai đoạn qui hoạch dự kiến xây dựng công trình. + Ở giai đoạn thiết kế : người kĩ sư phải có kiến thức về trắc đạc để tính toán thiết kế các công trình trên bản đồ, vẽ các mặt cắt địa hình. + Ở giai đoạn thi công : người kĩ sư phải có kiến thức và kinh nghiệm về công tác trắc đạc để đưa công trình đã thiết kế ra mặt đất, theo dỏi tiến độ thi công hằng ngay. + Ở giai đoạn nghiệm thu và quản lý công trình : là giai đoạn cuối cùng, người kĩ sư phải có hiểu biết về công tác đo đạc kiểm tra lại vị trí, kích thước của công trình đã xây dựng, áp dụng một số phương pháp trắc lượng để theo dỏi sự biến dạng của công trình trong quá trình khai thác và sử dụng.
+ Đối với công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên: Các loại bản đồ địa hình rất cần thiết cho công tác thăm dò, sử dụng và quản lý các tài nguyên thiên nhiên. Công tác tổ chức quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên của một quốc gia. Các giai đoạn khảo sát thiết kế, thi công và vận hành công trình đều cần tới công tác trắc đạc hoặc những thành quả của nó. * Các công tác đều được xây dựng theo căn bản thiết kế.
Nếu sử dụng các bản thiết kế định hình thì công tác thiết kế tiến hành thành hai giai đoạn: thiết kế nhiệm vụ và bản vẽ thi công. Để lập bản thiết kế nhiệm vụ phải tiến hành khảo sát kinh tế kỹ thuật, trong đó có khảo sát Trắc đạc mà chủ yếu là việc lập bình đồ tỉ lệ lớn 1/10.000, để lập thiết kế kỹ thuật và bản vẽ phải có bình đồ tỉ lệ 1/2000; 1/1000. 1 * Trong công tác qui hoạch, có qui hoạch mặt bằng và qui hoạch độ cao. Qui hoạch mặt bằng được tiến hành bằng phương pháp giải tích dựa vào các công trình đã có, trong đó độ cao và tọa độ các góc nhà và công trình được xác định từ các mốc trắc địa.
Phương pháp đồ giải dựa vào các số liệu đo trực tiếp trên bình đồ địa hình. Qui hoạch độ cao và tính toán khối lượng đào đắp được tiến hành trên bình đồ và mặt cắt địa hình. * Trắc đạc thi công công trình được tiến hành theo hai giai đoạn: - Thi công trục chính và trục cơ bản. - Thi công các trục phụ và các yếu tố thành phần công trình.
Các trục chính và trục cơ bản được bố trí dựa vào các mốc trắc địa. Các trục này về sau sẽ là cơ sở để thi công các trục phụ và các chi tiết công trình. Cần chú ý là chất lượng thi công phụ thuộc rất lớn vào công tác đo dạc. * Sau khi hoàn thành công trình cần tổ chức đo vẽ nghiệm thu để lập tổng bình đồ hoàn công cần thiết cho việc vận hành công trình.
* Việc quan sát biến dạng công trình (lún) bằng các phương pháp Trắc đạc phải tiến hành một cách có hệ thống từ lúc đào móng cho đến quá trình vận hành. Với tầm quan trọng của trắc địa như trên, bài giảng môn Kỹ thuật đo đạc nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về dụng cụ, phương pháp đo đạc các yếu tố cơ bản; Đo vẽ bản đồ, bình đồ và sử dụng bản đồ, bình đồ; Các kiến thức cơ bản về đo đạc công trình. Bài giảng môn Trắc Đạc được biên soạn tổng hợp từ nhiều sách và giáo trình của nhiều tác giả nhằm phục vụ cho việc giảng dạy môn Trắc đạc cho sinh viên các ngành kỹ thuật như: xây dựng dân dụng & công nghiệp, cấp thoát nước. Nội dung bài giảng gồm có 5 bài như sau: Bài 1.
Sử dụng bản đồ, mặt cắt địa hình Bài 2: Đo góc và thiết bị đo góc Bài 3: Đo cao và thiết bị đo cao Bài 4: Đo dài và thiết bị đo dài Bài 5: Đo đạc phục vụ thi công. Bài giảng được soạn từ nhiều giáo trình nên không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong những ý kiến đóng góp, phê bình của các bạn đồng nghiệp và các bạn sinh viên có tham khảo bài giảng này. SỬ DỤNG BẢN ĐỒ, MẶT CẮT ĐỊA HÌNH 1.
Những đơn vị thường dùng trong trắc địa Trong trắc địa phải đo các đại lượng hình học như chiều dài, góc, diện tích, thể tích. và các đại lượng vật lý như gia tốc trọng trường, thời gian, các yếu tố khí tượng. Đơn vị đo dài Năm 1791, Tổ chức đo lường Quốc tế lấy đơn vị đo dài là mét với quy định: “Một mét là chiều dài tương ứng với 4.10-7 chiều dài kinh tuyến đi qua Pari” và chế tạo một thước chuẩn có độ dài 1m bằng thép không gỉ, có độ giãn nở rất nhỏ đặt ở Viện đo lường Pari. Sau thế kỷ XIX, độ chính xác của thước chuẩn không còn đáp ứng được yêu cầu đo lường các phần tử vô cùng nhỏ.
Năm 1960 quy định lại “Một mét là chiều dài bằng 1.763,73 chiều dài của bước sóng bức xạ trong chân không của nguyên tử Kripton- 86, tương đương với quỹ đạo chuyển rời của điện tử giữa hai mức năng lượng 2P 10 và 5d5” 1m = 10dm = 100cm = 1000mm = 1000.000Nm Ngoài ra một số nước còn dùng đơn vị đo dài khác: 1foot = 0,3048m, 1inch = 25,3mm, dặm và hải lý. Đơn vị đo góc Trong Trắc địa thường dùng ba hệ đơn vị đo góc là Radian, độ và grad. - Rad là độ lớn của góc được tính bằng tỷ số giữa chiều chài cung chắn bởi góc và bán kính vòng tròn: 1800 = rad - Độ là góc ở tâm đường tròn chắn một cung tròn có chiều dài bằng 1/360 chu vi hình tròn. 10 = 60’ = 3600’’ - Grad là góc ở tâm đường tròn chắn một cung tròn có chiều dài bằng 1/400 chu vi hình tròn.
1g = 100c = 10000cc - Quan hệ giữa các đơn vị đo góc: 1 góc tròn = 2 rad = 3600 = 400g - Đơn vị đo diện tích thường dùng là m2, km2, ha: 1km2 = 106m2; 1ha = 104m2 2. Hệ tọa độ thường dùng trong trắc địa 2. Hệ tọa độ địa lý a. Hình dáng thật của quả đất Mặt ngoài của quả đất có dạng ghồ ghề, phức tạp bao gồm các đại dương và lục địa, trong đó biển đã chiếm tới 71%; còn lục địa chỉ có 29%.
Chênh lệch độ cao giữa đỉnh núi cao nhất Chomoluma +8.882m và hố sâu nhất Marian -11.032m khoảng 20km, so với bán kính trung bình trái đất là 6.371km 1 hMax 20 10 = = T R 6371 3000 3 Hình dung thu nhỏ trái đất như một quả cầu R = 3m thì vết gợn lớn nhất trên quả cầu là 1cm. Vì vậy có thể coi mặt trái đất là một bề mặt nhẵn.1 Trong thực tế, Trái đất có hai cực là băng và do quá trình nóng lên của trái đât, trái đất bị dẹt đều ở 2 cực. Vì vậy trái đất có hình bầu dục. Khối Elipxoid trái đất Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: “ Độ lồi lõm trung bình trên bề mặt trái đất gần trùng với mặt nước đại dương ở trạng thái trung bình, yên tĩnh xuyên qua các lục địa, hải đảo làm thành một vòng khép kín”.
Và gọi là mặt nước gốc( MNG) hay còn gọi là mặt Geoid. Mực nước gốc có tính chất thẳng góc với phương của dây dọi. Phương dây dọi lại phụ thuộc vào sức hút của trọng trường, tức phụ thuộc vào sự phân bố vật chất trong các lớp vỏ trái đất dẫn đến phương dây dọi không hội tụ về tâm. Mặt Geoid lượn sóng( không biểu diễn theo dạng toán học) Trong thực tế không xác định được chuẩn mặt Geoid mà chỉ xác định được gần đúng Kvazigeoid.
Tuy nhiên cả 2 mặt Geoid và Kvazigeoid đều không phải dạng toán học, trong khi đó các số liệu Trắc địa đều xử l trên bề mặt toán học. Vì vậy dùng mọt mặt toán học gần với hai mặt đó là khối Elip tròn xoay, hay còn gọi là khối Elipxoid, được đặc trưng bởi 2 bán trục: Bán trục lớn a, bán trục nhỏ b và độ dẹt . 4 a−b = a Để có mặt bầu dục xoay gần giống với mặt nước gốc ở Quốc gia mình thì mỗi nước đều chọn một mặt elipsoit cục bộ. Hình bầu dục xoay có ý nghĩa quốc tế nhất là do nhà bác học Nga Krasowski tìm ra năm 1940 với kết quả: a = 6378245m b = 6356.
Hệ tọa độ địa lý Hệ tọa độ địa lý lấy mặt Geoid có dạng mặt Ellipsoid làm mặt chiếu và lấy phương dây dọi làm đường chiếu. Đường tọa độ cơ bản của hệ tọa độ địa lý là kinh tuyến và vĩ tuyến. Kinh tuyến là giao tuyến của mặt phẳng đi qua trục quay trái đất PP1 và mặt Ellipsoid. Kinh tuyến gốc là kinh tuyến đi qua đài Thiên văn Greenwich ở ngoài ô London.3 Vĩ tuyến là giao tuyến của mặt phẳng vuông góc với trục quay trái đất và mặt Ellipsoid.
Vĩ tuyến gốc chính là đường xích đạo. Độ kinh và độ vĩ địa lý được xác định từ kết quả đo thiên văn nên tọa độ địa lý còn được gọi là tọa độ thiên văn.