CHƯƠNG 5 Tâm lí người dưới quyền Tóm tắt chương Chương 5 cung cấp cho người học những vấn để về các hiện tượng tâm lí đặc trưng của người dưới quyền như: Quá trình tâm lí, Trạng thái tâm lí và Thuộc tính tâm lí của người dưới quyển; Những ảnh hưởng của các hiện tượng tâm lí đến hoạt động lao động của người dưới quyền. Mục tiêu của chương - Kiến thức: Hiểu đúng bản chất của con người trong tổ chức theo quan điểm duy vật biện chứng; Nắm được những đặc điểm tâm lí cơ bản của con người với tư cách là khách thể quản lí; Hiếu rõ nội dung và ý nghĩa của các lí thuyết về tâm lí của con người trong tổ chức, nhà trường và các cơ sở giáo dục. - Kĩ năng: Phá hiện vấn dé tâm lí nảy sinh, diễn biến của người dưới quyển; Có khả năng động viên cá nhân cũng như nhóm làm việc tích cực và hiệu quả; Sở đ„ng nhân viên dựa trên các quy luật tâm lí phù hợp. - Thái độ: Tiếp nhận các nhiệm vụ học tập một cách chủ động; Tích cực tham gia các hoạt động học tập để giải quyết nhiệm vụ học tập; Chủ động tạo động lực cho cá nhân và người khác để làm việc tích cực.
126 Con người đóng vai trò trong chủ đạo trong hệ thống quản lí. Khái niệm con người đã được định nghĩa với ba dấu hiệu nội hàm: sinh vật, tâm H và xã hội. Trong hoạt động quản lí, cần xem xét quản lí theo quan điểm con người và những hoạt động của họ trên ba phương diện: Con người với tư cách là chủ thể quản lí; Con người với tư cách là đối tượng quản lí; Quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lí. Do đó, muốn quản lí tốt thì trước hết phải quản lí con người một cách khoa học.
Nếu tác động tốt, hợp quy luật thì con người sẽ trở thành kì diệu, mọi tiểm năng của con người được phát huy. Nếu tác động xấu, trái quy luật thì tài năng con người sẽ bị thưi chột, tính sáng tạo sẽ bị triệt tiêu, con người sẽ phát triển theo chiều hướng lệch lạc làm tiêu cực hoá nhân tố con người gây nên những hậu quả xã hội hết sức nặng nề. Có thể nói, trong quản lí, những sai lầm về con người đã để lại những bài học khắc nghiệt. Do vậy, công việc của người quản lí là phải nắm được tâm lí của con người.
Con người theo tiếp cận của chương này là đối tượng quản lí (người dưới quyền). NHỮNG THUỘC TÍNH TÂM LÍ CỦA NGƯỜI DƯỚI QUYỀN Quản lí là hoạt động thực tiễn xã hội có tổ chức mà con người tiến hành để thực hiện những mục đích nhất định. Trong hoạt động đó, con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng tác động. Do đó, bất cứ sự để xuất chính sách, tư tưởng quản lí nào cũng không thể xa rời nhận thức về bản chất con người, đặc biệt là người dưới quyền (những chủ thể lao động sản xuất trực tiếp) trong các tổ chức.
Một nhà quản lí, lãnh đạo - người nhạc trưởng của dàn nhạc - có phối hợp, điểu hành tổ chức (dàn nhạc) của mình một cách hiệu quả để đạt được mục tiêu đề ra hay không phụ thuộc lớn vào việc anh ta hiểu và cư xử như thế nào với những thành viên trong tổ chức mà mình đang lãnh đạo. Câu châm ngôn nổi tiếng “Biết mình, biết người trăm trận trăm thắng” vẫn còn nguyên giá trị cho tới ngày nay, đặc biệt trong trường hợp của nhà quản lí, lãnh đạo. Để tập hợp, thu hút và lôi cuốn các thành viên trong tổ chức, nhà lãnh đạo cần phải có khả năng “hiểu người”, nói cách khác là hiểu được các thuộc tính tâm lí của người dưới quyền. Thuộc tính tâm lí là những hiện tượng 127 tâm lí tương đối ổn định, khó hình thành và cũng khó mất đi, tạo thành những nét riêng của nhân cách và nó chỉ phối, điểu khiến hành vi, hoạt động của con người.
Uznetze, người đầu tiên trong Tâm lí học Xô viết nghiên cứu về nhu cầu. Ông khám phá ra mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi. Ông cho rằng: không có gì đặc trưng cho một cơ thể sống hơn sự có mặt ở nó các nhu cầu. Nhu cầu, đó là cội nguồn của tính tích cực.
Do đó, nhu cầu nổi lên như một vấn để cần quan tâm hàng đầu của các nhà quản lí - lãnh đạo để động viên tính tích cực của người lao động. Khái niệm Có thể nói, nhu cầu là một trong những nguồn gốc quan trọng của hành vi con người. Các hoạt động sống cũng như tính tích cực của con người được bắt nguồn từ các nhu cầu của người đó. Nghiên cứu về nhu cầu là một vấn để lớn trong tâm lí học nói chung và trong hoạt động của các nhà quản lí nói riêng.
Cuốn Tâm lí học đại cương do Nguyễn Xuân Thức (Chủ biên) định nghĩa: Nhu cầu là sự thể hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần được thoả mãn để tổn tại và phát triển. Nhu cầu có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động của con người. Nó không phải là yếu tố trực tiếp làm nảy sinh hoạt động nhưng là nguồn gốc của tính tích cực hoạt động. Kovaliop viết “Một nguồn gốc nội tại căn bản thúc đẩy hoạt động của quần chúng và của cá nhân là các nhu cầu”.
Như vậy, nhu cầu một mặt quy định và tích cực hoá động cơ của con người; mặt khác nó quy định xu hướng lựa chọn ý nghĩ, tình cảm và ý chí của con người. Sự thoả mãn các nhu cầu là động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân và tập thể. Mức độ, quy luật nhu cầu và công tác quản lí, lãnh đạo * Các mức độ nhu cầu Nhu cầu của con người ra thành 2 mức độ: Nhu cầu ở mức độ thấp (Các nhu cầu để tồn tại): Nhu cầu ở mức độ cao (Các nhu cầu để phát triển). 128 — Các nhu cầu ở mức độ thấp: Là những nhu cầu liên quan đến việc duy trì sự tổn tại của cơ thể - đảm bảo nền tảng cho các hoạt động sống.
Đây thường là các như cầu vật chất, trong đó cơ bản nhất là: ăn, mặc, ở. — Nhu cẩu ở mức độ cao: Là những nhu cầu gắn với việc thoả mãn đời sống tinh thần của con người. Đó là các nhu cầu: được tôn trọng, thừa nhận, có vị trí xã hội, có cơ hội thăng tiến, được giao tiếp, nhận thức, tham gia các hoạt động xã hội, được thể biện và khẳng định bản thân. Các nhu cầu này đảm bảo cho sự phát triển của cá nhân, Nhu cầu là nguồn gốc tính tích cực hoạt động của cá nhân.
Vì vậy, để hình thành tính tích cực của nhân viên trong tổ chức, nhà quản lí cần hiểu được thang bậc nhu cầu cũng như nắm được nhu cầu, nguyện vọng của người lao động trong từng thời điểm, giai đoạn khác nhau. Việc thoả mãn những nhu cầu chính đáng của người lao động sẽ giúp họ làm việc tích cực, chủ động hơn. * Quy luật nhu cầu Trong tác phẩm 21 nguyên tắc vàng của nghệ thuật lãnh đạo, tác giả John C. Maxwell khẳng định: “Nhân tố con người quyết định tiểm lực của công ty, các mối quan hệ quyết định tỉnh khí của công ty, sự lãnh đạo quyết định thành bại của công ty.
Theo đó, nhân tố lãnh đạo và con người quyết định đến hai yếu tố sống còn của một tổ chức: tiềm lực và sự thành bại. Nói ' cách khác, nhà lãnh đạo sử dụng nguồn lực con người để tạo ra tiểm lực vững mạnh của tổ chức, điều này quyết định việc thành bại của tổ chức đó. Để sử dụng nguồn lực con người hiệu quả, họ cần hiểu và biết vận dụng các quy luật tâm lí trong đó có quy luật về nhu cầu con người. * Quy luật nhu cầu và việc vận dụng quy luật như cầu trong quản lí Theo tác giả W.
Newman, quy luật tác động của như cầu tới con người là: - Ở hầu hết con người có một hệ thống nhu cầu. Khi nhu cầu này được thoả mãn thì nhu cầu khác trở nên bức thiết hơn. - Khi một nhu cầu nào đó được thoả mãn, thì nó không còn là động lực thúc đẩy hoạt động của con người nữa. - Nhu cầu của con người không bao giờ được thoả mãn đầy đủ.
Nhu cầu của con người là vô tận. 129 * Vận dụng các mức độ và quy luật như cầu trong quản lí, lãnh đạo Việc nắm được và vận dụng hợp lí quy luật tác động này trong quản lí con người trong tổ chức sẽ giúp nhà quản lí, lãnh đạo phát huy được sức mạnh của mỗi cá nhân nói riêng và tập thể nói chung. Quy luật này có thể được vận dụng trong quản lí con người và tổ chức như sau: ~ Đối với người lao động, nhà quản lí, lãnh đạo cần: + Hiểu được hệ thống thứ bậc nhu cầu của người lao động, đặc biệt nắm được nhu cầu nổi trội của các cá nhân trong những giai đoạn khác nhau. Bởi vì khi tác động và làm thoả mãn nhu cầu nổi trội này của nhân viên trong những giai đoạn nhất định sẽ khiến họ phấn khởi, an tâm, hứng thú và vì vậy hiệu quả lao động được tăng lên.
+ Quy luật nhu cầu còn cho thấy, nhà quản lí, lãnh đạo cần nhạy cảm và - rất linh hoạt trong việc nhận ra nhu cầu của người lao động. Muốn vậy, họ phải biết đặt mình vào vị trí của người khác, biết lắng nghe và thấu hiểu. + Cuối cùng, không chỉ nhận ra và tác động vào nhu cầu của người lao động, nhà quản lí, lãnh đạo còn cần phải biết định hướng, kích thích làm nảy sinh những nhu cầu của cấp dưới một cách phù hợp vì sự phát triển của mỗi cá nhân và tổ chức. Ví dụ: Một hiệu trưởng mới về nhận công tác tại một trường có điều kiện cơ sở vật chất, tài chính khó khăn.
Làm thế nào để động viên đội ngũ giáo viên, công nhân viên? Với điều kiện như vậy, không thể tác động vào nhu cầu vật chất của họ mà cần có những tác động mang ý nghĩa tinh thần: Cho họ thấy giá trị, ý nghĩa của mình, khẳng định những thành tích và đóng góp của họ, niềm vui và ý nghĩa trong công việc của mình.