Giáo Trình Tâm Lý Học Đại Cương Trường Đại Học Luật Hà Nội - Đặng Thanh Nga & Phan Kiều Hạnh

Giáo trình Tâm lý học đại cương - đại học luật hà nội - đặng thanh nga & phan kiề biên soạn theo chương trình đào tạo chuẩn, phù hợp sinh viên ngành

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Tâm lý học đại cương

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

giáo trình

2019

0
33
0

Phí lưu trữ

40 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TÂM LÝ HỌC LÀ MỘT NGÀNH KHOA HỌC

1.1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ TÂM LÝ HỌC

1.2. Những tư tưởng tâm lý học thời cổ đại

1.3. Những tư tưởng tâm lý học từ nửa đầu thế kỷ XIX trở về trước

1.4. Tâm lý học trở thành một khoa học độc lập

1.5. Các quan điểm cơ bản trong tâm lý học hiện đại

1.5.1. Tâm lý học hành vi

1.5.2. Thuyết phân tâm học

1.5.3. Tâm lý học Gestalt (tâm lý học cấu trúc)

1.5.4. Tâm lý học nhân văn

1.5.5. Tâm lý học nhận thức

1.5.6. Tâm lý hoạt động

1.6. BẢN CHẤT CỦA HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ

1.6.1. Định nghĩa hiện tượng tâm lý

1.6.2. Tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan của não

1.6.3. Tâm lý mang tính chủ thể

Tóm tắt

I. Tâm lý học là một ngành khoa học

Tâm lý học được xác định là một ngành khoa học độc lập, nghiên cứu về các hiện tượng tâm lý của con người. Giáo trình Tâm lý học đại cương của Đại học Luật Hà Nội do Đặng Thanh NgaPhan Kiều Hạnh chủ biên đã khái quát lịch sử phát triển của tâm lý học từ thời cổ đại đến hiện đại. Các nhà triết học như Khổng Tử, Socrates, và Plato đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu tâm lý, với những quan điểm khác nhau về bản chất của tâm hồn và ý thức. Nghiên cứu tâm lý đã trải qua nhiều giai đoạn, từ quan niệm duy tâm đến duy vật, và cuối cùng trở thành một ngành khoa học thực nghiệm vào cuối thế kỷ XIX.

1.1. Lịch sử phát triển tâm lý học

Lịch sử tâm lý học bắt đầu từ những câu hỏi cơ bản về bản chất của tâm lý. Các nhà triết học cổ đại như Khổng Tử và Socrates đã đưa ra những quan điểm đầu tiên về tâm hồn và ý thức. Plato cho rằng tâm hồn là cái có trước, trong khi Aristotle nhấn mạnh sự gắn kết giữa tâm hồn và thể xác. Thời kỳ Phục hưng và Khai sáng đã mở ra những bước tiến mới trong nghiên cứu tâm lý, với sự xuất hiện của các phương pháp khoa học và thực nghiệm.

1.2. Tâm lý học trở thành khoa học độc lập

Vào cuối thế kỷ XIX, tâm lý học tách khỏi triết học và trở thành một ngành khoa học độc lập. Wilhelm Wundt, người sáng lập phòng thí nghiệm tâm lý đầu tiên tại Đức, đã định nghĩa tâm lý học là bộ môn nghiên cứu kinh nghiệm hữu thức. Các phương pháp thực nghiệm và mô tả từ vật lý và sinh lý học được áp dụng để nghiên cứu các hiện tượng tâm lý đơn giản như cảm giác và tri giác.

II. Các trường phái tâm lý học hiện đại

Giáo trình Tâm lý học đại cương giới thiệu các trường phái tâm lý học hiện đại, bao gồm tâm lý học hành vi, phân tâm học, tâm lý học Gestalt, và tâm lý học nhân văn. Mỗi trường phái có cách tiếp cận khác nhau về bản chất và phương pháp nghiên cứu tâm lý. Tâm lý học hành vi tập trung vào hành vi có thể quan sát được, trong khi phân tâm học nhấn mạnh vai trò của vô thức. Tâm lý học Gestalt nghiên cứu tính trọn vẹn của ý thức, và tâm lý học nhân văn tập trung vào sự tự thể hiện và nhu cầu của con người.

2.1. Tâm lý học hành vi

Tâm lý học hành vi, do J. Watson sáng lập, tập trung vào việc nghiên cứu hành vi có thể quan sát được. Theo Watson, hành vi là phản ứng của cơ thể trước các kích thích từ môi trường. Trường phái này đã đóng góp lớn vào việc nghiên cứu tâm lý một cách khách quan, nhưng bị chỉ trích vì bỏ qua vai trò của ý thức và tính chủ thể của con người.

2.2. Phân tâm học

Phân tâm học, do Sigmund Freud đề xướng, nhấn mạnh vai trò của vô thức trong đời sống tâm lý. Freud cho rằng các hiện tượng tâm lý bị chi phối bởi bản năng dục vọng và xung đột giữa cái nó, cái tôi, và cái siêu tôi. Mặc dù có nhiều đóng góp, phân tâm học bị chỉ trích vì quá nhấn mạnh vào bản năng và bỏ qua yếu tố xã hội.

III. Bản chất của hiện tượng tâm lý

Giáo trình Tâm lý học đại cương định nghĩa hiện tượng tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan của não, mang tính chủ thể và có bản chất xã hội lịch sử. Tâm lý không phải là sản phẩm của thượng đế hay não bộ, mà là kết quả của quá trình tương tác giữa não và môi trường. Phương pháp nghiên cứu tâm lý bao gồm cả sinh lý học và xã hội học, nhằm hiểu rõ hơn về các hiện tượng tâm lý phức tạp.

3.1. Phản ánh tâm lý

Phản ánh tâm lý là quá trình não bộ tiếp nhận và xử lý thông tin từ môi trường. Khác với phản ánh cơ học, phản ánh tâm lý mang tính tích cực và chủ thể, phản ánh thế giới khách quan thông qua lăng kính cá nhân. Điều này giải thích tại sao mỗi người có cách nhìn nhận và phản ứng khác nhau trước cùng một sự kiện.

3.2. Vai trò của não bộ

Não bộ là cơ sở vật chất của tâm lý. Tâm lý học đại cương nhấn mạnh vai trò của hai bán cầu não trong việc điều khiển các chức năng tâm lý. Não trái liên quan đến tư duy logic và ngôn ngữ, trong khi não phải liên quan đến sáng tạo và cảm xúc. Sự cân bằng giữa hai bán cầu não là yếu tố quan trọng để đạt hiệu quả trong học tập và cuộc sống.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TÂM LÝ HỌC LÀ MỘT NGÀNH KHOA HỌC 1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ TÂM LÝ HỌC Lúc con người bắt đầu xuất hiện trên trái đất cũng là lúc họ cũng bắt đầu đặt câu hỏi về các hiện tâm lý. Tâm lý là gì? Phải nghiên cứu tâm lý như thế nào? là những vấn đề khó khăn nhất đối với tri thức con người. Tâm lý là vật chất hay linh hồn thuần tuý? Nếu là vật chất sao ta không nhìn thấy, sờ thấy? Nếu là linh hồn thuần tuý sao có thê sai khiến được bắp thịt cử động và con người hành động? Theo thế giới quan khác nhau mà người ta cũng giải thích những vấn đề này (tâm lý là gi) một cách khác nhau.

Những tư tưởng tâm lý học thời cổ đại - Nhà triết học Trung Hoa Không Tử (551 đến 479 tr. CN) nói đến chữ "tâm" của con người là "nhân, lễ, trí, dũng". Về sau học trò của Không Tử nêu thành "nhân, lễ, nghĩa, trí, tín". - Nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại Socrates (469-399 tr.CN) có câu nói nổi tiếng: "Hãy tự biết mình" và “Sống mà không suy tư thì không đáng sống”.

Đây là một định hướng có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của khoa học tâm lý ở chỗ, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của triết học và tâm lý học đã có quan điểm cho rằng, con người có thể và cần phải tự hiểu biết về chính bản thân mình. - Nhà triết học duy tâm cô đại Plato (427 - 347 tr. CN) coi “thế giới ý niệm” là nguồn gốc của vạn vật, do linh hồn nhập vào con người. Ông cho rằng tâm hồn là cái có trước, thực tại có sau.

Tâm hồn trí tuệ năm trong đầu chỉ có ở giai cấp chủ nô; tâm hồn dũng cảm năm ở ngực và chỉ có ở tầng lớp quý tộc; tâm hồn khát vọng nằm ở bụng và có ở tầng lớp nô lệ. CN) là người đầu tiên “bàn về tâm hồn”. Ong cho rằng, tâm hồn gắn liền với thé xác và có 3 loại tâm hồn: + Tâm hồn dinh dưỡng đảm bảo chức năng tăng trưởng, hấp thụ dinh dưỡng, và sinh sản; + Tâm hồn cảm giác, đảm nhận chức năng cảm thụ, vận động; + Tâm hồn suy nghĩ đảm nhận chức năng lý giải, lập luận; Theo ông, các loài thực vật chỉ có tâm hồn dinh dưỡng. Còn các loài động vật có cả tâm hồn dinh dưỡng và tâm hồn cảm giác.

Chỉ có con người mới có cả ba loại tâm hồn. - Đối lập với quan điểm duy tâm thời cổ đại về tâm hồn là quan điểm của các nhà triết học duy vật cho rang, tâm ly cũng là một thứ vật chất do vật khác sinh ra như: + Talet (khoảng 624 - 547 tr.CN) cho răng, tâm lý do nước sinh ra; + Hêraclit (khoảng 540 - 480 tr. CN) cho rằng, tâm ly do lửa sinh ra; + Đêmôcrit (khoảng 460 - 370 tr.CN) cho rang, tâm lý do nguyên tử sinh ra; Nhưng thời đó, khoa học tự nhiên cũng như chủ nghĩa duy vật còn thô sơ, người ta chưa thé giải thích được những hoạt động tâm lý phức tạp như tư duy, ý thức, tính cách của con người. Do đó, trong suốt thời cô đại và thời trung cô, quan niệm duy tâm về tâm lý vẫn còn thống trị.

Những tư tưởng tâm lý học từ nửa đầu thế kỷ XIX trở về trước Từ thế ky XVII trở đi, các ngành khoa học tự nhiên, cơ học, hình học, vật lý, hoá học. phát triển mạnh, thuyết “linh hồn” bắt đầu lung lay. Người ta đặt ra câu hỏi: phải chăng chính ngay bản thân con người chịu tác động từ bên ngoài có thể sinh ra tâm lý, ý thức? Do khoa học kỹ thuật phát triển, con người có điều kiện để quan sát hành vi của mình. - Nhà triết học và bác học người Pháp R.Descartes (1596 - 1650) là người đầu tiên dùng khái niệm “phản xạ” dé cắt nghĩa một cách duy vật những hành động đơn giản của động vật và con người.

Sơ đồ phản xạ đó diễn ra như sau: sự vật bên ngoài tác động vào các giác quan gây ra luồng kích thích thần kinh và hệ thần kinh đáp lại bang một cử động bắp thịt. Theo ông, chỉ có thế giới khách quan là có tâm lý (có kích thích thì có phản ứng). Còn những hành động chủ định có ý thức của con người theo R.Descartes thì vẫn do linh hồn mà ông gọi là “lý tính tối cao” điều khiến. Ông là tác giả của mệnh dé trứ danh “tôi tư duy là tôi ton tai”; tư duy - thông hiéu, mong muốn, tinh than, ý thức.

- Nhà triết học người Anh J.Locke (1632 - 1704) là người đặt ra “tâm lý học kinh nghiệm”. Tuy nhiên, ông lại chia kinh nghiệm ra làm hai loại: + Kính nghiệm bên ngoài do tác động bên ngoài vào cái giác quan gây ra; + Kinh nghiệm bên trong thì vẫn sinh ra từ cái “ý thức bên trong” tự hoạt động, tự nó thúc đầy và tự nó mới biết được nó.Locke có tiễn bộ trong việc giải thích hiện tượng tâm lý, nhưng đều không triệt để vì cả hai đều đại diện cho phái “nh nguyên luận” cho rằng, vật chất và tâm hồn là hai thực thể song song tồn tại. - Thế ky XVII - XVIII - XIX cuộc dau tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và duy vật xung quanh mối quan hệ giữa tâm và vật. + Các nhà triết học duy tâm chủ nghĩa G.Berkeley (1685- 1753) cho răng thế giới không có thực, thế giới chỉ là "phức hợp các cảm giác chủ quan" của con người.Hume(1711-1776) coi thế giới chỉ là những kinh nghiệm "kinh nghiệm chủ quan".

Nguồn gốc của kinh nghiệm là do đâu? Ông cho rằng con người không thé biết. Vì thế người ta vẫn coi Hume thuộc vào phái bat khả tri. Học thuyết duy tâm phát triển tới mức độ cao thé hiện ở "ý niệm tuyệt đối" của G. + Nhà triết học duy vật B.Spinoza (1632-1667) coi tất cả vật chất đều có tư duy.

Tâm lý học trở thành một khoa học độc lập Từ đầu thế kỷ XIX trở đi, cùng với sinh vật học và các khoa học khác, sinh lý học giác quan và sinh lý học bộ não có những bước phát triển quan trọng. Sinh lý học và hình thái học hệ thần kinh đã tìm ra những hoạt động riêng biệt của dây thần kinh cảm giác, các vùng ở não điều khiển sự vận động của thân thể. Vật lý học đã giải thích rõ ràng hiện tượng tâm lý đơn giản là cảm giác băng cách tìm ra quy luật kích thích sự vật bên ngoài đối với giác 8 quan tạo điều kiện cho tâm lý học trở thành một khoa học độc lập. Những thành tựu của sinh vật học và sinh lý học cho thấy rõ con người đã sinh ra từ hệ thống thống nhất của thế giới muôn loài và xét về tính chất thì con người cũng là một cá thé sinh vật.

Điều đó càng thúc đây việc dùng các phương pháp của sinh vật học và sinh lý học để nghiên cứu tâm lý. Nhiều tài liệu khoa học đã chứng minh mối quan hệ giữa những hiện tượng tâm lý với hoạt động của não và của cơ thé nói chung. Khoa học tự nhiên đã góp phần tích cực vào sự hình thành và phát triển khoa học về tinh thần. Dựa vào những tài liệu khoa học đó, người ta bắt đầu nghiên cứu tỉ mỉ tâm lý ở động vật, tâm lý các bộ tộc sơ khai, tâm lý trẻ em, tâm lý những người trí tuệ chậm phát triển.

Tuy nhiên, một câu hỏi vẫn được đặt ra là hiện tượng tâm lý vốn là hiện tượng tỉnh thần, không mang một năng lượng vật lý nào vì sao lại có khả năng gây ra một kết quả vật chất như một cử chỉ, một thái độ, một hành động, một biến đổi trạng thái cơ thể? Rõ ràng, phương pháp sinh lý học không thé dùng để giải thích những hiện tượng nay mà chỉ có thé dùng để nghiên cứu một số hiện tượng tâm lý đơn giản như cảm giác. Cuối thế kỷ XIX, tâm lý học tách ra khỏi triết học thành một khoa học riêng với tính cách là khoa học thực nghiệm, chủ trương dùng phương pháp thực nghiệm và mô tả của vật lý học và sinh lý học để nghiên cứu những hiện tượng tâm lý đơn giản như cảm giác, tri giác, chú ý, trí nhớ, thói quen.Wundt (1832-1920) nhà tâm lý học lập ra phòng thí nghiệm tâm lý đầu tiên trên thế giới tại thành phố Leipzig nước Đức. Ông quan tâm nghiên cứu các khối cau trúc của trí tuệ. Chính thức định nghĩa tâm lý học là bộ môn nghiên cứu kinh nghiệm hữu thức.

Ông xây 9 dựng một mô hình nhận thức được mệnh danh là lý thuyết kết cấu. Lý thuyết kết cau chú trọng đến các yếu tô căn bản làm nền tảng cho tư duy, ý thức, tình cảm, và các trạng thái cùng các hoạt động tâm lý khác. Cũng cùng thời gian đó, W.James đã lập một phòng thí nghiệm ở thành phố Canbridge thuộc tiểu bang Masschusetts nước Mỹ. Sau này, nhiều nước khác như Nga, Anh, Pháp.

cũng lập ra phòng thí nghiệm tâm lý. Các quan điểm cơ bản trong tâm lý học hiện đại 1. Tâm ly học hành vi Thuyết hành vi do nhà tâm ly học Mỹ J.Watson (1878 —1958) sáng lập. Ông cho răng, tâm lý học không quan tâm đến việc mô tả giảng giải các trạng thái tâm lý ý thức mà chỉ quan tâm đến hành vi của cơ thé.

Đối tượng của tâm lý học hành vi là hành vi. Bất kỳ một hành vi nào ở con người cũng như ở động vật đều được xem như là tổng hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài theo công thức S — R (Stimulant: Kích thích; Reaction: Phản ứng). Với công thức nay, J.Watson đã đưa ra một quan điểm tiễn bộ trong tâm lý học, đó là coi hành vi do ngoại cảnh quyết định, hành vi có thé quan sát, và nghiên cứu được một cách khách quan. Nhưng thuyết hành vi đã quan niệm một cách cơ học, máy móc về hành vi, đồng nhất hành vi của con người với hành vi của động vật, hành vi chỉ là những phản ứng máy móc nhằm đáp ứng lại kích thích, giúp cơ thê thích nghi với môi trường xung quanh.

Thuyết hành vi đã hoàn toàn phủ nhận vai trò chủ đạo của hệ thần kinh cấp cao, tính tích cực cua tâm ly, ý thức con người như là hình thức đặc biệt của việc điều chỉnh hành vi, và phủ nhận một van dé cơ ban, đó là con người là một thực thể xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Giáo Trình Tâm Lý Học Đại Cương của Đặng Thanh Nga và Phan Kiều Hạnh là một tài liệu quý giá cho những ai muốn tìm hiểu về tâm lý học trong bối cảnh pháp luật và xã hội. Tài liệu này không chỉ cung cấp kiến thức cơ bản về các khái niệm và lý thuyết tâm lý học mà còn giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách mà tâm lý học có thể áp dụng trong các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong giáo dục và pháp luật. Những điểm nổi bật của giáo trình bao gồm sự phân tích sâu sắc về hành vi con người, các yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý và cách thức mà tâm lý học có thể hỗ trợ trong việc giải quyết các vấn đề xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học nhận thức của sinh viên chuyên ngành tiếng anh về những trở ngại khi thuyết trình trong giờ học tiếng anh pháp luật tại đại học luật hà nội, nơi khám phá mối liên hệ giữa tâm lý học và giáo dục pháp luật. Ngoài ra, tài liệu Trắc nghiệm logic học đại cương đại học trà vinh cũng có thể cung cấp cho bạn những kiến thức bổ ích về tư duy logic, một phần quan trọng trong việc hiểu và áp dụng tâm lý học. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ giai pháp thu hút giảng viên trình độ cao tại trường đại học hải dương, giúp bạn nhận thức rõ hơn về vai trò của tâm lý trong việc thu hút và giữ chân giảng viên chất lượng cao trong giáo dục. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và áp dụng kiến thức tâm lý học vào thực tiễn.