Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản cửa đời sống tâm lí con người (nhận thức, tình cảm và hành động). Nó là tiền đề của hai mặt kia và đồng thời có quan hệ chặt chẽ với chúng và với các hiện tượng tâm lí khác. Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình phần ánh hiện thực khách quan ở những mức độ khác nhau: cảm giác, trí giác, tư duy, tưởng tượng .Những quá trình này cho ta những sản phẩm khác nhau: hình ảnh, biểu tượng, khái niệm. Đại thể có thể chia toàn bộ hoạt động nhận thức thành hai giai đoạn lớn: nhận thức cảm tính (cằm giác và trì giác) và nhận thức fí tính (tư duy và tưởng tượng).
Trong hoạt động nhận thức của con người hai giai đoạn này có an hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau. Lênìn đã tổng kết quy luật đó của hoạt động nhận thức nói chung như sau: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu. tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, cửa sự nhận thức hiện thực khách quan"? Ades THỨC CẢM TÍNH. Khái niệm về cảm giác và trí giác “Trong quá trình tiến hoá của sinh giới (phát sinh chủng loại) và trong quá trình phát triển của một đứa trẻ (phát sinh cá thể) thì cẩm giác là hình thức định hướng đầu tiên của cơ thể trong thế giới xung quanh.
Có những con vật chỉ phản ánh được những thuộc tính riêng lẻ có ý nghĩa sinh học trực tiếp của sự vật, hiện tượng, mà thôi. Đứa trẻtrong những tuần lễ đầu tiên cũng như vậy. Điều đó nói lên rằng, cảm giác là hình thức khởi đầu trong sự phát triển của hoạt động nhận thức. Cảm giác là một quá trình nhận thức phần ánh một cách riêng lẻ cửa sự vật, hiện tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào giác quam của t4: Cảm giác có những đặc điểm sau:.
= LA mot qué trinh nhận thức (có nẫy sinh, diễn biến và kết thúc) có kích thích là bắn thân các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan. ~ Chỉ phản ánh một cách riêng lễ rừng thuộc tính của sự vật, hiện tượng: Đắc điểm này cho thấy cầm giác là mức độ nhận thức t ~ Phân ánh hiện thực khách quan một cách rrực riếp, nghĩa là sự vật, hiện tượng phải trực tiếp tác động vào giác quan của ta. Đặc điểm này cũng nói lên mức độ thấp của cảm giác nói riêng và nhận thức cẩm tính nói chung trong SỰ phản ánh hiện thực khách quan. Cũng như nÌ ững hiện tượng tâm lí khác, cảm giác của con người có bản chất xã hội, thể hiện ở những điểm sau: ~ Đối tượng phân ánh của cảm giác ở con người không phải chỉ là những sự vật, hiện tượng vốn có trong tự nhiên, mà còn bao gồm cả những sẵn phẩm do lao động của con người tạo ra.
- ~ Cơ chế sinh lí của cảm giác ở con người không chỉ giới hạn ở hệ thống tin hiệu thứ nhất. mà cả ở hệ thống tín hiệu thứ hai nữa. - Cảm giác của con người được phát triển mạnh mẽ và phong phú dưởi hưởng của hoạt động và giáo dục (ví dụ, người thợ đệt có thể phân biệt được tới 60 mau den khác nhau). Để phản ánh các sự vật, hiện tượng một cách chỉnh thể, các cảm giác riêng lẻ, đo sự hoạt động của từng cơ quan phân tích riêng lẻ đem lại, được tổng lợp lại trên vỏ não và đem lại cho con người một hình ảnh trọn vẹn, hoàn chỉnh về các sự vật, hiện tượng.
Đó là các hình ảnh của trí giác. Trì giác là một quả trình nhận thức phản ánh một cách trọn vẹn các thuậc tính: Ag yes của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan ca ta. Tri gide có những đặc điểm cơ bản sa ~ Cũng là một quđ trình nhận thức, cũng phẫn ánh hiện thực khách quan một cách true tiếp, ~ Nhưng phẩn ánh sự vật, hiện tượng một cách trọn vẹn: trì giác đem lại cho l ° ta những hình ảnh hoàn chỉnh về sự vật, ⁄ 5 “ hiện tượng. Tuy là những hình vẽ không / \ dầy đủ, nhưng nhìn vào các hình bên ta / đều trí giác chúng như là một hình tròn, _ À\_ Og ˆ một hình tam giác, chứ không phải là — '*>- =”Z một tập hợp các nét gạch hay các đấu chấm đơn giản (Hình.
đình 1 Tinh tron ven của trí ác là do tinh trọn vẹn khách quan của bản thân sue vat và hiện tượng quy cơ sở kinh nại .m, hiểu biết của mình, chỉ cần tri giác một số thành phần riêng lẻ chúng ta cũng tổng hợp dược các thành phần riêng l Hình ảnh trọn cn của sựvat, hi tượng. Sự tổng hợp này được thực hiện trên cơ sở sự hoạt động, phối hợp của nhiều. cơ quan phân tíc ~ Liên quanđến tính tron ven, tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng theo những cấu trác nhất định. Trì giá trong mí liên hệ này được hình thành trong suốt một khoảng thời gian nào đó.
Ví dụ, khi ta tri giác ngôn ngữ của người khác mà hiểu được là vì các từ của họ phát ra nằm. trong một cấu trúc nhất định, với những mối liên hệ qua lại xác định giữa các thành phần của cấu trúc ấy. Sự phan ánh này không phải đã có từ trước, mà nó diễn ra trong quá trình trì giác. Đó là rính kết cấu của trì giác.
- Những đặc điểm trên đây chứng tỏ trí giác là một quá trình tích cự , được sắn liền với hoạt động của con người. Thường thì sự tr giác của con người mang tính chất tự giác, nó không phải là một quá trình xem xét thụ động, giản đơn, mà 1à sự giải quyết một nhiệm vụ nhận thức cụ thể nào đó. Người ta đã chứng min được rằng, trì giác là một hành động tích cực, trong đó có sự kết hợp chất chế của các yếu tố cảm giác và vận động. ác loại cảm giác và trí giác 4.
Các loại cảm giác Căn cứ vào vị trí của nguồn kích thích gây ra cẩm giác nằm ỡ ngoài hay trong Ga thé, ng ta chia im gic thành hai nhóm lớ: các cằm giác bên ngoài và cá cẩm giác ngoài gỗm: ~ Cảm giác nhìn (thị giác). - Cẩm giác nghe (thính giác). ~ Cẩm giác ngữi (khứu giác). - Cẩm giác nếm (vị giác).
Vận động và cảm giác Biệt chạm); ~ Cảm giác thăng bằng; giác rung; Như vậy, quan nỉ cũ cho rằng người ta chỉ cố 5 giác quan (ngũ quan) là không chính xác, 4.2, Các loại tri giác Thường người ta phân loại trí giác theo 2 cách: phân loại theo cơ quan phân tích nào giữ vai trò chính trong số các cơ quan phân tích tham gia vào quá trình tri giác, và phân loại theo đối tượng được phẩn ánh trong trì giác. “Theo cách phân loại thứ nhất, ta có các loại trì giác sau: “Theo cách phân loại thứ hai, ta có các loại tri giác sau: - Tri giác không gian; ~ Tri giác thời gian; = Tri giác vận động: ~ Tri giác con người (tri giác xã hội Các quy luật cớ bản củ úy luật về ngưỡng. Không phải mọi sự kích thích-vào giác-quan đều gây ra cảm gi ch i hay qué th đều không gây.ra cẩm giác. Giới hạn của cường đô mà ở đổ kích thích gây ra được cảm giác thì gọi là-ngưởng „ Có hai loại ngưỡng cắm ngưỡng cằm giác phía dưới là cường.
để gây ra cảm giác và ngưỡng cảm giác phía trên là cường độ kích thích tối đa mà ở đó vẫn còn gây ra được cảm giác. Ngưng cảm giác phía dưới hay còn gọi là ngưỡng suyệt đối, nó tỷ lệ nghịch vớiđộ nhạy cảm của cảm giác. Ví dụ: ngưỡng hy dồi của tị s iác ở người là những sóng ánh sáng có bước sóng là 390 mm, còn ngưỡng phía trên là 780 mm. Ngoài hai giới hạn trên là những tia cực tím (tử ngoại) và cực đỏ (hồng ngoại), mắt người không nhìn thấy được.
Ngoài ra, người ta còn nói đến zưỡng sai biệt. Đó là mức độ chênh lệch tối thiểu về cường độ hoäc tính chất của hai kích thích đủ để ta phân biệt được hai kích thích đó. Ngưỡng sai biệt của mỗi cảm giác là một hằng số và nó tỷ lê nghịch với độ nhạy cảm sai biệt của cảm giác. Quy luật về sự thích ng của cẩm giác Để bảo đảm cho sự phản ánh được tốt nhất và bảo vệ cho hệ thần kinh khỏi bị huỷ hoại, cằm giác của con người có khả năng rhứch ứng.
với kích thích Đó là khả năng thay đổi độ nhạy cảm của cảm giác cho phù hợp với sự thaÿ đổi của cường” độ Kích thích: khi cường độ kích thích tăng thì giảm đô nhay cảm. khi cường, độ kích thích giảm thì tăng độ nhạy cm. / ; Ví dụ, khi ta đang ở chỗ sáng (cường độ kích thích thị giác mạnh) mà vào chỗ tối (cường độ kích thích thị giác yếu) thì lúc đầu không nhìn thấy gì cả, phải sau một thời gian ta mới đần dần thấy rõ (thích ứng), Trong trường hợp này xảy ra sự: tăng độ nhay cảm của thị giác. Mức độ thích ứng của các loại cảm giác khác nhau là không giống nhau.
Khả năng thích ứng của cẩm giác có thể được phát triển do hoạt động nghề nghiệp và rèn luyện. Quy ludt về sự tác động lẫn nhau giữa các cảm giác. Các cảm giác ở con người luôn tác động qua lại với nhau, chúng không tồn tại một cách biệt tác động qua lại giữa các cảm giác là sự thay đối tính nhạy căm của một cảm giác này đưới ảnh hường cita một cảm giác kia. Sự tác động qua lại đó điễn ra theo một quy luật chung như sau: sự #íck thích yếu tên một giác quan này sẽ làm tăng độ nhạy cằm cũa một giác quan kia, sự kích thích mạnh lên ây sẽ làm giảm độ nhạy cẩm cũa một giác quan kia.
Vi du, khí uống một cốc nước đường còn nóng thì cảm thấy ít ngọt hơn khi trống cũng cốc nước đường đó nhưng để nguội. Như vậy, nhiệt giác đã ảnh hưởng, đến vị giác. Sựtác động qua lại giữa các cảm giác có thể diễn ra một cách đồng thoi hay nổi tiếp, giữa các cằm giác cùng loại hay khác loại. Sự tương phản chính là hiện * tượng tác động qua lại giữa các cảm giác thuộc cùng một loại.
Đớ la su thay dé cường độ và chất lượng của cằm giác đưới ảnh hưởng của một kích thích cùng loại xảy ra trước đó hay đẳng thời.