Chương 1 TÀI NGUYÊN ĐỘNG VẬT HOANG DÃ Ở VIỆT NAM 1. Tổng quan về tài nguyên động vật hoang dã của Việt Nam Việt Nam là quốc gia có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loài đặc hữu và quý hiếm. Ở Việt Nam, hiện đã ghi nhận được 332 loài thú (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009), 887 loài chim (Lê Mạnh Hùng, 2012), 457 loài bò sát và 244 loài lưỡng cư (Butler, 2020). So với một số quốc gia khác trên thế giới, mặc dù Việt Nam có diện tích nhỏ hơn nhiều nhưng lại có tính đa dạng sinh học cao hơn.
Ví dụ: Việt Nam có số lượng loài chim nhiều hơn số loài chim của Hoa Kỳ. Theo thuyết địa lý sinh học đảo, diện tích càng lớn thì chứa đựng số loài càng nhiều. Nếu xét trong cùng một khu vực thì lý thuyết đó đúng, nhưng xét trên các khu vực khác nhau có điều kiện khí hậu và địa hình, nguồn gốc phát sinh khác nhau thì có những ngoại lệ nhất định. Việt Nam có số lượng loài chim và thú đều nhiều thứ 25 trên thế giới, có số lượng loài bò sát nhiều thứ 12 trên thế giới và có số lượng loài lưỡng cư nhiều thứ 16 trên thế giới (Butler, 2020).
Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao về thành phần các loài động vật hoang dã vì một số lý do sau: - Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ độ, từ 8º02' - 23º23' vĩ độ Bắc. Do vậy, lượng bức xạ mặt trời và khí hậu cũng thay đổi theo. Việt Nam được chia thành hai miền với chế độ khí hậu khác biệt: Miền Bắc từ đèo Hải Vân trở ra và miền Nam từ đèo Hải Vân trở vào. Miền Nam có nền nhiệt cao hơn với hai mùa mưa và khô rõ ràng.
Miền Bắc vừa nhận được ít bức xạ mặt trời hơn vừa chịu ảnh hưởng của các đợt gió mùa Đông Bắc nên có nền nhiệt thấp hơn, đặc biệt vào mùa Đông. Khí hậu ở miền Bắc được chia thành bốn mùa rõ rệt. Ngoài ra, do cấu tạo địa hình, nước ta có một số vùng có tiểu khí hậu đặc trưng. Nhiều loài động vật hoang dã có vùng phân bố khá hẹp và chúng chỉ có thể cư trú ở khu vực có yếu tố sinh thái phù hợp.
Sự đa dạng về các yếu tố khí hậu đã dẫn đến tính đa dạng về thành phần loài động vật hoang dã; - Hệ thống sông ngòi dày đặc: Hệ thống sông ngòi thường chạy theo hướng Đông - Tây đã chia cắt các hệ sinh thái trên cạn và có thể cản trở quá trình trao đổi thông tin di truyền của một số loài động vật hoang dã. Do vậy, một số loài đã tiến hóa theo chiều hướng riêng và hình thành nên các loài riêng biệt. Ví dụ: Ở Việt Nam có 6 loài Vượn thuộc giống Nomascus và ranh giới ngăn cách vùng phân bố của các loài này là các con sông lớn; 11 - Địa hình đa dạng, có đồng bằng, cao nguyên và núi cao đã tạo nên tính đa dạng cao về hệ sinh thái. Ngoài các loài động vật phổ biến cư trú ở các vùng đất thấp, Việt Nam còn có một số loài đặc hữu, đặc hữu hẹp cư trú ở các cao nguyên, các đỉnh núi cao như Khướu ngọc linh chỉ được tìm thấy ở vùng núi Ngọc Linh, Kom Tum.
Vùng cao nguyên Langbiang trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng và Đắk Lắk cũng là nơi phân bố của nhiều loài chim quý hiếm như: Khướu đầu đen má xám (Trochalopteron yersini) (EN) với vùng phân bố chỉ vào khoảng 2.999 cá thể (IUCN, 2019); Mi Langbiang (Laniellus langbianis) (EN) với vùng phân bố chỉ vào khoảng 7.200 km2 và khoảng 1.000 cá thể (IUCN, 2019); - Khu hệ động vật vừa có yếu tố đặc hữu lại vừa có yếu tố di cư từ Trung Quốc, Hymalaya, từ vùng Ấn Độ, Malaysia. Tuy nhiên, tài nguyên đa dạng sinh học nói chung và động vật hoang dã nói riêng ở Việt Nam cũng đã suy giảm nhanh chóng trong vài thập kỷ gần đây. Việt Nam được coi là một điểm nóng về đa dạng sinh học toàn cầu (Conservation International, 2011). Tài nguyên động vật hoang dã ở Việt Nam bị suy giảm rất nhanh, do một số nguyên nhân chính sau: - Mất và suy thoái sinh cảnh: Các hệ sinh thái rừng tự nhiên đã bị suy giảm mạnh do khai thác hợp pháp và bất hợp pháp trong quá khứ, do xâm lấn rừng làm đất nông nghiệp, do chuyển đổi đất rừng sang đất trồng cây công nghiệp.
Khi diện tích và chất lượng rừng thay đổi thì thành phần loài và kích thước quần thể của từng loài cũng bị ảnh hưởng, đặc biệt là đối với nhiều loài thú lớn cần không gian sống rộng; - Săn bắn, bẫy bắt: Hiện tượng săn bắn động vật hoang dã diễn ra ở tất cả các địa phương trong toàn quốc. Động cơ chính của hoạt động săn bắn là để bán ra ngoài thị trường, phần nhỏ được sử dụng tại cộng đồng địa phương. Hoạt động săn bắn đã gây thiệt hại vô cùng lớn cho tài nguyên động vật hoang dã, nhiều loài có kích thước quần thể suy giảm mạnh mẽ trong một hai thập kỷ trở lại đây. Ví dụ điển hình là quần thể Tê giác cuối cùng ở Việt Nam đã bị tuyệt chủng năm 2010 do áp lực săn bắn.
Tại nhiều nơi, hoạt động bẫy bắt diễn ra mạnh mẽ khiến các loài động vật sống dưới đất đứng trước nguy cơ suy giảm quần thể. Ví dụ: Loài Trĩ sao từng khá phổ biến trước kia nhưng hiện tại rất khó ghi nhận/bắt gặp ở các khu rừng ở miền Trung Việt Nam; - Ngoài hai nguyên nhân trên, biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường cũng có thể là những nguyên nhân gây ảnh hưởng tới các quần thể động vật hoang dã. Đặc điểm khu hệ Thú Việt Nam là nơi cư trú của 322 loài thú (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Các loài thú này thuộc 15 bộ và 43 họ, trong đó nhiều nhất là họ Chuột và một số 12 họ thuộc bộ Dơi.
Nếu trừ đi Heo vòi đã tuyệt chủng thì hiện nay Việt Nam có 320 loài thú, thuộc 14 bộ và 42 họ. Ngoài ra, còn một số loài cũng bị nghi ngờ đã tuyệt chủng, gồm có các loài Tê giác (Rhinoceros sundaicus), Bò xám (Bos sauveli), Trâu rừng (Bubalus bubalis), Nai cà tông (Cervus eldii). Trong lớp Thú, bộ Linh trưởng là bộ có nhiều loài thú nguy cấp, quý hiếm nhất hiện nay. Đa phần các loài trong bộ Linh trưởng là các loài sắp nguy cấp (VU), nguy cấp (EN), hoặc rất nguy cấp (CR).
Nhiều loài có kích thước quần thể rất nhỏ, ví dụ quần thể của loài Vượn đen tuyền Tây Bắc (Nomascus concolor) chỉ còn khoảng 20 đàn với 64 - 79 cá thể, phân bố chủ yếu ở khu bảo tồn Mù Cang Chải (Yên Bái) và khu bảo tồn Loài và sinh cảnh Mường La (Sơn La) (Trần Văn Dũng & Nguyễn Đình Duy, 2019). Loài Vượn cao vít (Nomascus nasutus) cũng chỉ còn được tìm thấy ở Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Trùng Khánh (Cao Bằng) và vùng rừng giáp ranh của Trung Quốc với kích thước quần thể khoảng 107 - 136 cá thể (Ma et al. Một số loài thú quý hiếm có vùng phân bố rất hẹp và là loài đặc hữu của Việt Nam, ví dụ: Voọc cát bà hay Voọc đầu trắng (Trachypithecus poliocephalus) hiện chỉ còn khoảng 60 cá thể phân bố ở đảo Cát Bà (Bleisch et al. Quần thể loài Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) hiện còn khoảng 250 cá thể (Xuan Canh et al., 2008) và phân bố ở một số khu vực núi đá thuộc tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang.
Loài Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) hiện còn khoảng 250 cá thể và phân bố rải rác trên dải núi đá từ Hà Nam, Ninh Bình tới Thanh Hóa, trong lãnh thổ Việt Nam. Một số loài thú có có thể đã tuyệt chủng về phương diện sinh thái học như Hổ (Panthera tigris). Theo các thông tin không chính thức thì hiện nay Việt Nam còn dưới 5 cá thể Hổ. Tuy nhiên, gần đây hầu như không có thông tin về loài này ở các khu vực trước kia thường xuất hiện như các khu rừng giáp ranh giữa Việt Nam và Lào hoặc Việt Nam và Campuchia.
Các loài thú thuộc nhóm Hươu Nai là đối tượng săn bắn, bẫy bắt. Kích thước quần thể của nhiều loài trong nhóm này đã suy giảm nghiêm trọng như Hươu xạ (Moschus berezovskii), Hươu vàng (Axis porcinus), Nai (Rusa unicolor). Hiện nay, Nai chỉ còn nhiều ở Vườn quốc gia Cát Tiên, nơi khách du lịch có thể nhìn thấy Nai hàng ngày. Trong 322 loài thú ở Việt Nam thì có 116 loài thuộc nhóm loài quý hiếm (Bảng 1.
Do là đối tượng săn bắn và buôn bán nên rất nhiều loài thú được liệt kê trong danh sách các loài động thực vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ theo nghị định số 64/2019/NĐ-CP và danh sách các loài động thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, điển hình là nhóm các loài Tê tê (Manis sp.