Chương I: Khái niệm, triết ly và giá trị của công tác xã hội Chương II: Vai trò, chức năng và nguyên tắc nghề nghiệp trong công tác xã hội. Chương 3: Hệ thống cơ quan, tổ chức làm công tác xã hội và nhân viên xã hội chuyên nghiệp. (CHUONGI: KHAI NIEM, TRIẾT LÝ VÀ GIA TR] CUA CÔNG TÁC XÃ HỘI 1. Khái niệm về Công tác xã hội 1.
Khái niệm về Công tác xã hội. Công tác xã là một khoa học xã hội ứng dụng, là một nghề chuyên môn, ra đời vào đầu thế kỷ XX ở nhiều nước trên thế giới. Nó có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội của con người, của mỗi quốc gia. Sự ra đời và phát triển công tác xã hội đã đóng góp đáng kể vào việc ngăn ngừa và giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần bảo.
đảm công bằng xã hội và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Ở nước ta, hoạt động mang tính chất "Công tác xã hội" đã có từ rất sớm trong lịch sử dân tộc. Đó là sự cưu mang, đàm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng trên tinh thần "nhiễu điều phú lấy giá gương.", "uống nước nhớ nguồn", "lá lành đùm lá rách". Ngày nay, chúng ta có một đội ngũ đông đảo những cán bộ nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tiễn về Công tác xã hội trên các lĩnh vực: Lao động - Thương, binh và Xã hội; Dân số - Gia đình và Trẻ em; Phụ nữ; Thanh niên.
Tuy nhiên, Công, tác xã hội mang tính chuyên nghiệp và đào tạo Công tác xã hội ở nước ta còn có khoảng cách xa so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Để có cách hiểu thống nhất về Công tác xã hội, sau đây xin nêu lên vài định nghĩa về Công tác xã hội: Theo Từ điển Công tác xã hội (1995): " Công tác xã hội là một khoa học xã hội ứng dụng nhằm giúp con người hoạt động có hiệu quả về mặt tâm lý xã hội và tạo ra những thay đối trong xã hội để đem lại sự an sinh cao nhất cho con người ". Theo Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế, tại Đại hội khoáng đại của Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế tổ chức tai Motreal (Canada) vào tháng 7 năm 2004, đã đưa ra một định nghĩa mới về Công tác xã hội như sau: " Công tác xã hội thúc đầy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mỗi quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng cho. người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu.
Vận dụng các lý thuyết về hành vì con người và các hệ thống xã hội, Công tác xã hội can thiệp ở những điểm. tương tắc giữa con người và môi trường của họ” Tuy nhién trén thế giới, mỗi nước khác nhau, do những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội ;hác nhau nên có nhiều cách diễn đạt khác nhau về Công tác xã hội. Chẳng hạn: Theo quan niệm của Hiệp hội chuyên gia Công tác xã hội Mỹ: Công tác xã hội là hoạt động chuyên môn nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng phục hồi hay ting cường chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp để giúp họ thực hiện được mục đích cá nhân. Theo quan niệm của Philippin: Công tác xã hội là một nghề chuyên môn, thông qua các dịch vụ xã hội nhằm phục hồi, tăng cường mỗi quan hệ qua lại giữa cá nhân và môi trường vì nền an sinh của cá nhân và toàn xã hội.
Nhu vay, các định nghĩa về Công tác xã hội của Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế, của Hiệp hội chuyên gia Công tác xã hội Mỹ và của Philippin tuy có sự khác nhau trong cách ign đạt, nhưng nội hàm của khái niệm đều có những đặc trưng chung sau đây: ~ Công tác xã hội được khẳng định là một khoa học, một hoạt động mang tính chuyên môn, chuyên nghiệp và được xã hội thừa nhận là một nghề chuyên nghiệp, độc. lập với các nghề khác trong xã hội và không thể thiếu trong đời sống xã hội. ~ Nói chung, Công tác xã hội nhằm giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết những vấn đề khó khăn nảy sinh trong cuộc sống, trong quá trình tương tác giữa cá nhân và môi trường, trong tiến trình phát triển xã hội. Từ đó, giúp họ vượt qua khó.
khăn hiện tại để phục hồi hay tăng cường chức năng xã hội nhằm đem lại sự an sinh cao nhất cho con người và sự tiến bộ, công bằng xã hội. ~ Các hoạt động can thiệp giúp đỡ của nhân viên xã hội chuyên nghiệp đều hướng vào thúc đẩy sự thay đổi xã hội, phát triển các mối quan hệ tương tác giữa các cá nhân, giữa con người và xã hội thông qua việc cung cấp các dịch vụ xã hội cho cá nhân, gia đình và cộng đồng. ~ Trong thực hành Công tác xã hội, nhân viên xã hội sử dụng các kiến thức, kỹ năng chuyên môn được đào tạo để giúp đối tượng /thân chủ tăng năng lực và quyền lực. trong việc giải quyết vấn đề của họ.
Đây có thể coi là quá trình nhân viên xã hội giúp. đối tượng phát hiện được những khả năng tiềm tàng, những điểm mạnh và những, 1 nguồn lực sẵn có của bản thân (cá nhân, gia đình, cộng đồng) và nối kết với các nguồn lực xã hội trong việc tự lực giải quyết vấn đề của chính mình. Nói đến những vấn để thuộc chức năng xã hội là nói đến tình trạng liên quan đến vai trò xã hội của con người và việc thực hiện các vai trò ấy. Trong cuộc sống, trong.
lao động, mỗi con người thực hiện nhiều vai trò khác nhau: Vai trò cá nhân, vai trò xã hội và sự kết hợp các vai trò. Chẳng hạn: Trong mỗi gia đình, mỗi thành viên thực hiện chức năng, vai trò khác nhau trong mối quan hệ vợ - chồng, cha mẹ - con cái, anh chị - em. Có người cùng lúc phải thể hiện nhiều vai trò khác nhau, như vai trò của người vợ đối với chồng, người mẹ đối với con cái, người con đối với cha mẹ; trong mỗi cộng đồng là việc thực hiện chức năng, vai trò người dân của một cộng đồng (tinh, thành. Pl ó, huyện, quận, xã, phường.); trong mỗi quốc gia, là việc thực hiện chức năng, vai trò của một công dân đối với xã hội, với đất nước.
Nhu vay, mỗi con người mang nhiễu vai trò khác nhau và thực tế cuộc sống là mạng lưới các vai trò năng động và các mối quan hệ giữa các vai trò. Có nhiều người vì lý do này hay lý do khác, không thể tiến hành một hoặc nhiều chức năng xã hội của họ một cách đầy đủ. Để giúp đỡ những người này, nghề Công tác xã hội đã ra đời, nhằm giúp các cá nhân thực hiện tốt các vai trò của mình vả tăng cường sự tương tác, liên kết giữa các cá nhân và xã hội. Phân biệt Công tác xã hội với hoạt động từ thiện Thực tế, có rất nhiều người, ngay ở nhiều quốc gia phát triển vẫn chưa hiểu hết nội dung và ý nghĩa của Công tác xã hội trên cả phương diện lý thuyết cũng như trong, hoạt động thực tiễn của Công tác xã hội.
Điều quan trọng là vì chưa hiểu tường tận về Công tác xã hội với tư cách là một khoa học, một nghề chuyên môn, dẫn tới có những người làm công việc không phải là Công tác xã hội nhưng lại cho rằng mình đã và đang làm Công tác xã hội. Ở Việt Nam cũng vậy, có rất nhiều người còn đồng hoá Công tác xã hội với công tác từ thiện, thực tế họ chỉ tham gia các hoạt động xã hội hoặc làm tir thiện nhưng lại cho rằng mình đang làm Công tác xã hội. V7 dự: Nhiều người làm việc thiện như ủng hộ vào Quỹ xoá đói giảm nghèo, Quỹ bảo trợ nạn nhân chất độc màu da cam, Quỹ đền ơn đáp nghĩa. họ đã nghĩ và cho rằng mình đang làm Công tác xã hội, 8 hoặc một số kênh thông tin đại chúng cũng thường đưa tin về vấn đề trên như vậy.
“Thực ra đó chỉ là những hoạt động xã hội, từ thiện. Dé làm sáng tỏ vấn đề nay, cần thiết phải đưa ra sự phân biệt giữa Công tác xã hội và công tác từ thiện. Điểm chung giống nhau giữa Công tác xã hội với hoạt động từ thiện là đều hướng vào việc giúp đỡ con người, thông qua việc cung cắp vật chất và phi vat chất đáp ứng các nhu cầu của con người trước những tình huống khó khăn mà con người đang. phải đối mặt mà bản thân họ không tự giải quyết được, đang cần sự giúp đỡ.
Tuy nhiên, hoạt động Công tác xã hội và hoạt động từ thiện có những đặc điểm khác nhau cơ bản sau đây: VỀ động cơ giúp đỡ: Trong hoạt động Công tác xã hội, nhân viên xã hội coi việc giúp đỡ đối tượng và lợi ích của đối tượng được giúp đỡ là mối quan tâm hàng đầu và duy nhất, là nhiệm vụ mà ngành Công tác xã hội và xã hội giao phó. Còn hoạt động từ thiện, người làm từ thiện còn có những động cơ khác, như làm việc thiện là để đức cho con cháu hoặc muốn tạo uy tín cá nhân, muốn khẳng định vị trí xã hội của họ hoặc vì mục đích chính trị hay kinh tế. Như vậy, hoạt động Công tác xã hội mang động cơ nghề nghiệp; còn hoạt động từ thiện mang động cơ cá nhân. Về phương pháp giúp đỡ: Công tác xã hội đề cao nguyên tắc "tự giúp" trên cơ sở tăng năng lực và trao quyền nhiều hơn cho đối tượng trong việc tự lực giải quyết vấn đẻ của chính họ bằng cách cho đối tượng cần câu thay vì cho xâu cá, nhằm giúp họ phát huy tiềm năng và nguồn lực bên trong của bản thân họ, để họ tự vươn lên giải quyết vấn đề khó khăn của chính mình, với sự hỗ trợ của nhân viên xã hội.
Để thực hành Công tác xã hội, nhân viên xã hội phải được đào tạo các kiến thức, kỹ năng làm việc với cá nhân, gia đình, cộng đồng và được cơ quan, tổ chức có thâm quyền cấp phép hành nghề. Còn hoạt động từ thiện của các tổ chức, cá nhân chỉ thuần tuý mang tính chất ban phát vật chất từ bên ngoài nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng tạm thời vượt qua những khó khăn trước mắt khi họ bị thiên tai, tai nạn hoặc các rủi ro, bắt hạnh khác dẫn đến việc mắt hoặc thiếu thốn các nguồn lực cá nhân để đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống.