Chuong 5 VAN HOA TOC NGUOI 5. KHÁI NIỆM Văn hoá là sự sáng tạo của con người, là sự biến đổi cái tự nhiên của từng cộng đồng người nhất định. Văn hoá là sự phản ứng, sự chế ngự, sự trả lời của một cộng đồng người trước những thách đố của tự nhiên (về cả môi trường tự nhiên lẫn bản năng tự nhiên của con người). Văn hoá là lối sống của một cộng đồng người, của một xã hội, của các thành viên về các phương diện nhận thức, quan niệm, chuẩn mực, biểu tượng và hệ thống các giá trị.
Tuy vậy, văn hóa là một khái niệm đa nghĩa, nên mặc dù được mọi người trên thế giới sử dụng rất phổ biến, nhưng để đi đến định nghĩa nội hàm khái niệm này lại rất phức tạp. Nó được định nghĩa dưới nhiều cách khác nhau và tùy thuộc vào cách tiếp cận của từng nhà khoa học, để có một nội hàm khái niệm văn hóa nhất định. Chúng ta có thể đề cập đến khái niệm văn hóa theo các hướng tiếp cận sau đây: - Tiếp cận theo từ nguyên cũng như trong cuộc sống hằng ngày: Theo từ nguyên, văn hóa với nghĩa Hán Việt, văn là vẻ đẹp “biểu hiện trước hết ở lễ, nhạc, cách cai trị và đặc biệt ở trong ngôn ngữ, sự giao tiếp. Chúng hợp thành một hệ thống quy tắc ứng xử được xem là đẹp đẻ, chuẩn mực"”''°.
còn hóa nghĩa là biến đổi, giáo hóa. Vậy, văn là những điều tốt đẹp của cuộc sống đã được đúc kết, còn hóa là đem cái đã được đúc kết hóa thân trở lại cuộc sống, làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Như vậy, khái niệm văn hóa ở phương Đông thiên về lối sống đẹp, ứng xử đẹp, thiên về văn hóa tinh thần. Còn ở phương Tây, khái niệm văn hóa bắt nguồn từ tiếng Latin là ewi/us có nghĩa là trồng trọt, vun trồng.
Theo đó, tiếng Pháp và tiếng Anh đều gọi văn hóa là cwi/re, trong tiếng Nga là kurura. Tắt cả thuật ngữ văn hóa gốc phương Tây với một nghĩa nào '® Huỳnh Công Bá, 2008, tr. 137 đó có thể hiểu là vun trồng/ biến đổi cây trái tự nhiên theo chiều hướng tốt đẹp bởi con người; “Wây, cuÌfus có nghĩa là hoạt động làm cho một sự vật hiện tượng gì đó sinh sôi, nảy nở, phát triển theo chiều hướng tốt đẹp”, Trong cuộc sống hăng ngày, khái niệm văn hóa được sử dụng rất phổ biến nhưng cũng hết sức tùy tiện. Có khi văn hóa để chỉ một ứng xử đẹp: Ứng xử có văn hóa; đến một gia đình sắp xếp ngăn nắp, gọn gàng, mọi người kính trọng, yêu thương nhau: Gia đình có văn hóa; chỉ một hoạt động văn hóa nghệ thuật: Hoạt động văn hóa; chỉ trình độ học vẫn: Trình độ văn hóa.
Theo đó, khái niệm văn hóa trong cuộc sống thường được dùng để chỉ một hành vi đẹp, một lối sống đẹp. - Tiếp cận theo hướng rộng nhất của khái niệm: Theo cách tiếp cận này, văn hóa được hiểu “Jà cái tu nhiên được được biến đối bởi bàn tay con ngudi'*’”, 1a thé giới nhân tạo bên cạnh thế giới tự nhiên, là những gì không phải của tự nhiên. Với cách hiểu này, văn hóa được đặt trong thế so sánh với tự nhiên. Cũng theo quan niệm rộng lớn này, văn hóa được hiểu là “một tổng thể phức tạp bao gôm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và cả những khả năng, thói quan khác mà con người đạt được với tự cách là một thành viên của xã hội”: - Tiép cận theo hướng hệ các giá trị của khái niệm: Theo cách tiếp cận này, UNESCO quan niệm, “Ứăn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của đời sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đông) đã diễn ra trong quá khứ cũng như trong hiện tại, qua hằng bao thể kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lỗi sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình!??°.
Theo đó, “Văn hóa là một hệ thông hữu cơ các giá trị vật chất và tỉnh thân do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự !5° Huỳnh Công Bá, 2008, tr. !5! Trần Quốc Vượng (Cb), 1997, tr. 2 E, B Tylor, 1871, Dẫn theo Huỳnh Công Bá, 2008, tr. !5 Ủy ban Quốc gia về thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa, Thập kÿ thế giới phát triển văn hóa, 1992, Nxb.
138 nhiên và xã hội của con người! “ “Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất, tỉnh thân và ứng xử mang tính biểu trưng, do một cộng đông người sáng tạo ra và tích lũy được qua quá trình sinh tôn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và lịch sử - xã hội của mình, cũng như sự hoàn thiện đối với bản thân mình”. - Tiếp cận theo hướng hẹp của khái niệm: Theo cách tiếp cận này, văn hóa gắn với dấu ấn văn hóa, bản sắc văn hóa của một tộc người: “ăn hóa là cái dấu ấn của một thể cộng dong lên mọi hiện tượng tỉnh thân, vật chất, mọi sản phẩm của thể cộng đông này từ tín ngưỡng, phong tục cho đến cả sản phẩm công nghiệp bán ra thị trường ?”", Theo đó, văn hóa bao gồm tất cả những gì là dau ấn đặc trưng thuộc về đời sống vật chất, xã hội và tinh thần của một cộng đồng người nhất định - đó chính là bản sắc văn hóa tộc người. Tóm lại, văn hóa là hệ thống những giá trị vật thể và phi vật thể do con người tạo nên để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của mình, là dấu ấn của một thể cộng đồng người trong quả trình tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. CHỨC NĂNG VĂN HÓA VỚI TỘC NGƯỜI Trong nghiên cứu nhân học và dân tộc học, văn hoá luôn gắn với tộc người bởi hai chức năng sau đây!” - Chức năng quy ước: Chức năng này gồm những hệ thống đặc thù của hoạt động vật chất và tinh thần để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống của một cộng đồng người, là hệ thống đặc thù của những phương tiện giúp cho việc thực hiện những hoạt động trí tuệ và tình cảm của con người.
Cách thức đầu tiên, xưa nhất về chức năng quy ước của văn hoá thường dựa vào sự thích nghỉ với môi trường tự nhiên (cho đến nay vẫn còn). Ví dụ, nhà là hang động, rèm đá (hang động, rèm đá tự thân nỏ không phải !34 Trân Ngọc Thêm, 1997, tr. 55 Huỳnh Công Bá, 2008, tr. '56 Phan Ngoc, 1994, tr, 20.
37 Các nhà văn hỏa học, còn đưa ra các chức năng của văn hóa, như ôn định xã hội, điều chinh các hành vi xã hội, giáo dục, giao tiếp, thẫm mỹ, giải trí, nhận thức. 139 là văn hoá nhưng con người cải tạo dùng làm chỗ ở; nó trở thành văn hoá), rồi âm nhạc, bài hát, câu hò,. đều thích ứng với môi trường tự nhiên. Mỗi tộc người tự mình sáng tạo ra văn hóa mang tính quy ước, như chế tác những công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt, đồ trang sức,.
như thế này hay như thế khác. Trong hệ thống quy ước của văn hoá có quy ước không ý thức (đa số là quy ước bắt chước tự nhiên) và hệ thống quy ước có ý thức. Hệ thống quy ước có ý thức, có ý nghĩa hàng đầu trong việc định hình đặc trưng văn hoá tộc người và phân biệt nó với các tộc người khác. Trêbôcxarốp khi nói đến chức năng này của văn hoá đã viết: Đặc điểm văn hoá phải được xem là dấu hiệu cơ bản của một tộc người, một dấu hiệu cho phép trong mọi trường hợp không loại trừ một trường hợp nào, vạch ra ranh giới giữa tộc người này với tộc người khác.
Nói cho cùng, ngay cả ngôn ngữ mà người ta vẫn coi là một tiêu chuẩn chủ yếu để phân định tộc người thì nó cũng gắn chặt với văn hoá của tộc người nói ngôn ngữ đó. Người ta thường goi ngôn ngữ là hình thức tôn tại của văn hoá hoặc coi nó là một trong những yếu tố của văn hoá! `Š. Chính nhờ chức năng quy ước của văn hoá, mà mỗi một thành viên của tộc người ý thức được đặc thù văn hoá của tộc người mình. - Chức năng thứ hai của văn hoá là thông tin (hay còn gọi là chức năng thông báo của văn hoá).
Chức năng này gắn liền với chức năng quy ước của văn hoá, nó bảo đảm cho sự giao tiếp giữa các thành viên trong môt tộc người về văn hoá. Tức là nó bảo đảm những mối liên hệ thông tin của từng tộc người trong lĩnh vực văn hoá và thể hiện dưới những hình thức khác nhau, bằng những giá trị vật chất hay tỉnh thần, bằng cử chỉ, bằng lĩnh vực sản xuất, đời sống, học tập. Ở đây, ta cần chú ý sự tiếp thu thông tin văn hoá tộc người, thường diễn ra có ý thức và vô ý thức. Sự tiếp thu lượng thông tin văn hoá tộc người diễn ra vô ý thức thường thời thơ ấu của các thành viên, như lời ru, điệu hát của mẹ, những trang sức, y phục tuổi thơ,.
hoặc là những thông tin văn hoá mà các thành viên không thể hiểu được (không giải thích được). Còn những thông tin văn hoá có ý thức là thông tin văn hoá nhận thức được, đóng 58 Trêbôcxarốp, Tộc người, chủng tộc và văn hoá, M.Nxb Khoa học 1971 (bản dịch). 140 một vai trò quan trọng trong việc tái sản xuất ra tộc người. Tức là những đặc trưng văn hoá bền vững được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Qua đặc trưng đó, các thành viên của tộc người dễ nhận biết và tập hợp nhau lại. Đây là thông tin văn hoá có tính chất lịch đại. Nhưng thông tin văn hoá còn có tính đồng đại, nó tạo điều kiện cho hoạt động của tộc người. Đồng thời, tính đồng đại của thông tin văn hoá còn phân biệt sự khác nhau giữa các tộc người và cũng làm xuất hiện những yếu tố giống nhau giữa các tộc người.
Có thể có nhiều dân tộc sống trên một lãnh thổ, cũng có nên tảng kinh tế và cùng nói chung một ngôn ngữ, nhưng không sao có thể có hai dân tộc có một nền văn hoá hoàn toàn giống nhau. Khi một dân tộc đã mắt đi đặc điểm văn hoá của mình thì nó không còn là một tộc người độc lập riêng biệt nữa.