Phần Mở đầu trình bày những điều khái quát vẻ hoạt dong giao tiếp dễ từ đó. di đến định nghĩa Ngữ dụng học. Ngữ cảnh và các nhân tố tạo thành ngữ cảnh, trong đó đáng chú ý là các quan hệ liên cá nhân, trì thức nẻn, các thành phẩn nội dung của diễn ngôn, sự chỉ phối của ngữ cảnh dối với các nội dung của diễn ngôn cũng như đối với việc tạo lập và lí giải các diễn ngôn là những trọng điểm của phẩn này. Đặc biệt, cẩn phân biệt nội dung liên cá nhân và nội dung thông tin, tức những nội dung liên quan tới hiện thực đẻ tài của diễn ngôn và có thể đánh giá theo tiêu chuẩn đúng, sai lôgích.
Định nghĩa Ngữ dụng học sẽ được xây dựng trên cơ sở đối lập nội dung liên cá nhân với nội dung thông tin xét theo quan hệ giữa ngữ cảnh với các đơn vị ngôn nạữ hình thành trong giao tiếp. Khi giao tiếp, chúng ta có ý định, tic dich giao tiếp, có niểm tin giao tiếp và dựa vào đích, vào niễm tin giao tiếp, chúng ta dựa nên kế hoạch giao tiếp rồi lựa chọn những hành động mà chúng ta cho rằng có thể thực hiện tốt nhất kể hoạch giao tiếp của mình để đạt dich giao tiếp đã dịnh ra. Mặt khác, bởi bất cứ cuộc giao tiếp nào cũng diễn ra trong một ngữ cảnh nhất định, cho nên căn cứ vào. ngữ cảnh, đặc biệt vào trì thức nền mà chúng ta thường xuyên báo cho nhau nhiều hơn những điều chúng ta nói ra trực tiếp.
Người học cẩn nắm được hai quy tắc ngữ dung tổng quát nhất trên đây sau phần mở dấu, bởi vì chúng sẽ có trong nội dung của các chương trong giáo trình. Chương một trình bày vẻ chiếu vat và chỉ xuất và hành động ngôn ngữ. Chiếu vật và chỉ xuất là những hành động ngôn ngữ giúp chúng ta đưa hiện thực ngoài diễn ngôn vào diễn ngôn, giúp chúng ta nhận biết diễn ngôn đang nói đến cái gì, qua đó mà gắn diễn ngón với ngữ cảnh bằng các biểu thức chiếu vật. Chúng là những sự kiện ngữ dụng đầu tiên vì không nhận biết được quan hệ giữa diễn ngôn với ngữ cảnh thì chúng ta không hiểu được nội dung của diễn ngôn.
Hành động ngôn ngữ (hành vi ngôn ngữ, hành động nói năng, hành động nói) là một trong những vấn để cốt lõi của Ngữ dụng học. Ngữ dụng học chính thức ra đời với sự phát hiện ra các hành vi ngôn ngữ. Ở trên đã nói đến việc người nói lựa chọn để thực hiện kế hoạch giao tiếp chủ yếu là hành vì ngôn ngữ, quan trọng nhất là các hành vi ở lời (hành động ngôn trung). Định nghĩa hành vĩ ngôn ngữ, trọng tâm là hành vì ở lời, các phương tiện ngôn ngữ (các biểu thức ngữ vi), hiệu lực ở lời của các phát ngôn, tức hiệu lực của các phát ngôn do hành vĩ ngôn ngữ tạo ra phát ngôn mà có, diễu kiện sử dụng các hành vi ở lời, sự phân loại các hành vi ở lời và việc sử dụng hành vi ở lời theo lối trực tiếp hay gián tiếp là những nội dung chính.
Chương hai viết vẻ lập luận và hội thoại. Lập luận xét theo Ngữ dụng học là sự tổ chức các căn cứ, tức các luận cứ nhằm dẫn tới một kết luận nào đó. Kết luận trong thực tế cũng là dích mà người tham gia giao tiếp đặt ra. Nói cách khác, lập luận thể hiện chính kế hoạch giao tiếp.
Chương này sẽ viết vẻ các thành tố tạo nên một lập luận, các quan hệ lập luận và các lẽ thường, những cơ sở có tinh xã hội, dựa vào đó mà người ta nói tổ chức nên lập luận. Hội thoại là hoạt động thường xuyên, cơ bản của giao tiếp. Những điều viết trước phần Hội thoại đều là những thành tố tham gia tổ chức nên phục vụ cho hoạt động giao tiếp nhưng tự chúng tách riêng rẽ chưa phải là giao tiếp. Chúng chỉ có giá trị giao tiếp khi tham gia vào hội thoại.
Hội thoại là địa bàn hành chức lao tiếp bao quát của chúng. Chiếu vật, hành vỉ ngôn ngữ và lập luận chỉ phát huy tác dụng khi được người giao tiếp vận dụng khi trò chuyện với nhau, trò chuyện bằng miệng và trò chuyện bằng chữ viết. Bởi vậy, Ngữ dụng học xem hội thoại thuộc lĩnh vực Ngữ dụng học vĩ mô còn chiếu vật, hành vi ngôn ngữ và lập luận nằm trong lĩnh vực Ngữ dụng học vi mô. Những quy tắc hội thoại, tổ chức của hội thoại và các đơn vi hội thoại xét về cấu trúc và chức năng gộp lại thành nội dung chủ yếu của phần này.
Nhu đã biết, trong giao tiếp do nhiều lí do, do tiết kiệm, quan trọng hơn cả là do sự chỉ phối của phép lịch sự (bao gồm cả sự lễ phép và sự nhã nhận), chúng ta thường xuyên báo cho nhau nhiều hơn những điều nói ra trực nghĩa là trong diễn ngôn tạo ra trong giao tiếp, trong hội thoại, bên cạnh những ý nghĩa mà câu chữ tạo nên, những ý nghĩa tường minh, còn có nhữngý nghia hàm ẩn, những ý nghĩa được truyền báo nhiều hơn những ý nghĩa tường mình. Tiền giả định và hàm ngôn cố ý được tạo ra trên cơ sở các tiền giả định và hầm ngôn tự nhiên, những nội dung được truyền báo nhiều hơn những diều dược nói ra trực tiếp là nội dung chủ yếu của chương ba — chương cuối cùng của giáo tình. Hướng dẫn học tập 4. Bất đầu dạy học phần Ngữ dụng học, giảng viên cần hướng dẫn và buộc sinh viên đọc thật kĩ các mục 1, 2, 3 trên đây, đặc biệt đọc kĩ mục 3 để họ có được một cái nhìn tổng quan vẻ những nội dung chủ yếu của giáo trình và quan hệ giữa chúng, Những nội dung và những quan hệ này cũng là những diều chúng ta phải thực hiện, phải tuân thủ khi giao tiếp nếu chứng ta muổn giao tiếp đạt hiệu quả.
Khi kết thúc học phản, giảng viên cũng nên trởlại những nội dung viết ở mục 3 kết hợp với nội dung phần kết luận viết ở c trình để tổng kết học phần. Như vậy sẽ giúp cho sinh viên nhận thức đẩy di, chic chin hon bản chất ngữ dụng của hoạt động giao tiế -4. Cũng nên buộc sinh viên đọc toàn bộ giáo trình và đọc kĩ mục lục trước khi nghe giảng. Việc này tuy chưa làm cho sỉnh viên hiểu được giáo trình nhưng, cũng có thể làm cho họ nhận biết được dù rất sơ lược, thậm chí chưa chính xác tạo thành Ngữ dụng học, những vấn đẻ có vẻ mới lạ nhưng lại rất quen thuộc khi họ trò chuyện, viết lách.
Cách đọc này sẽ giúp cho sinh viên tự xây dựng cho mình những cái mốc trí thức vẻ Ngữ dụng học mà họ sẽ phát triển sau này trong quá trình học tập học phần này. Việc làm nêu ở mục 4.2 trên đây cũng bắt buộc khi học từng chương của giáo trình, sinh viên cũng tự định được những cái mốc trí thức của mỗi chương dể rồi khi kết thúc học phẩn sẽ nối kết những cái mốc của từng chương đó lại thành cấu trúc nội đung của toàn bộ học phẩn. Trong quá trình đọc toàn bộ giáo trình hay toàn bộ chương, sinh viên nên ứng được trình độ nhận thức của sinh viên. Những điều chưa hiểu cũng sẽ là những căn cứ để sinh viên tự xây dựng những mốc tri thức nói trên đây.
Hướng dẫn cho sinh viên giải các bài tập trước khi giảng lí thuyết, dùng các bài tập dã giải để truyền đạt kiến thức và Kĩ năng ngữ dụng học là cách giảng cẩn thường xuyên vận dụng. Ngoài các bài tập trong giáo trình, giảng vis nên khuyến khích sinh viên luôn luôn có ý thức vận đụng lí thuyết học được để nhận diện va lí giải các sự kiện ngữ dụng do chính họ tạo ra trong giao tiếp. Dựa vào các bài tập trong giáo trình, giảng viên nên tìm thêm những bài tập khác rút từ thực tế sử dụng ngôn ngữ để tăng tính thực tiễn cho học phần. Giảng viên cần hướng dẫn cho sinh viên liên hệ nội dung bài giảng với những nội dung ngữ dụng học trong chương trình và SGK Ngữ văn THCS.
Giải các bài tập ngữ dụng trong SGK Ngữ văn THCS phải là một bộ phận quan trọng trong kế hoạch giảng dạy học phần Ngữ dụng học của giảng viên. Những hạn chế của ngôn ngữ học tiền ngữ dụng Từ Aristote đến tín hiệu học hiện nay, mọi lí thuyết vẻ thông tin đều dựa vào một mô hình duy nhất mà chúng tôi gọi là mô hình mã (code model). Theo mô hình này thì sự giao tiếp sẽ hoàn thành khi nội dung được mã hoá ở phía an. Ma hod là thể hiện một nội dung.
nào đó bằng cái được biểu hiện của tín hiệu, giải mã là căn cứ vào cái biểu hiện của các tín hiệu được dùng để tầm ra cái được biểu hiện, tức nghĩa của thông điệp. Theo mô hình mã thì mọi thông tin của một thông điệp đều nằm ở các tín hiệu dược dùng để tạo nên thông điệp. Ngôn ngữ học tiền ngữ dụng cũng làm việc theo mô hình mã. Nhà trường dạy cho học sinh rằng nghĩa của câu là do nghĩa của các từ va các quy tắc cú pháp kết hợp chúng lại, đó là nghĩa theo câu chữ, còn gọi là nghĩa hiển ngôn của câu.
Ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp nhà trường chỉ dạy nghĩa theo câu chữ, làm cho chúng ta hiểu rằng nghĩa theo eâu chữ là hiểu nghĩa của câu, là nắm được nội dung chính của câu. Thí dụ, Thế Lữ trong tạp chí Phong hoá số 180 trang 5 viết một câu vẻ ông Vũ Kim Ninh, người thù một vai diễn trong vở Huyên Trân công chúa: (1) Ông Vũ Kim Ninh sắm vai Hoàng Vấn Lang là người ding yeu va rat nhã nhặn với ban bè. Hiểu theo câu chữ, tức theo mô hình mã thì câu này nói vẻ tính cách xã hội của ông Vũ Kim Ninh, và đó là nghĩa đích thực của nó. Khi giải mã câu, những nhân tố phì ngôn ngữ như thời gian và địa diểm phát ngôn, ích, ý định hay là dich của người nói và rất nhiều nhân tố khác nữa không cẩn được biết đến.
Hựu chế thứ nhất của ngữ pháp truyền thống là chỉ thấy mô hình mã mà chưa thấy mô hình suy ý- Hạn chế thứ hai của ngôn ngữ học truyền thống là cho rằng nghĩa của câu, đặc biệt là câu trần thuật chỉ là nội dung sự kiện, còn gọi là sự tình nào đấy. Cú pháp nhà trường dạy rằng câu trần thuật kể lại cho người nhận biết vẻ một sự vật, sự kiện, hiện tượng. nào đấy diễn ra trong hiện thực.