Chương I: Nhận thức chung về quyền con người và pháp luật. 27 nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả các quyền luc | thuộc về nhân dân, mọi quyền lợi chính đáng của nhân dân đều được pháp luật bảo vệ và bảo đảm thực hiện. Bên cạnh đó, Nhà nước ta còn ban hành nhiều văn bản pháp luật tuy có hiệu lực pháp lý không cao nhưng đã ghi nhận quyền con người trong tố tụng dân sự thông qua các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự, vị trí, vai trò của luật sư, về tính khách quan, vô tư của Thẩm phán trong khi xét xử và tranh tụng tại phiên tòa. Chẳng hạn, Điều 26 Sắc lệnh số 51-SL ngày 17-4-1946 về thẩm quyền của các toà án Việt Nam đối với mọi công dân cho phép đương sự có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng mọi biện pháp cần thiết để chứng tỏ sự thật của vụ án hay tại các Điều 81 và Điều 84, Mục A về “Nghĩa vụ về chức nghiệp” của Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 về Cách tổ chức các toà án và các ngạch Thẩm phán trong nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà nêu rõ “Thẩm phán không được tự đặt ra lệ mà xử đoán”! hay “Các Thẩm phán phải làm đầy đủ bổn phận, dự đều các phiên toà, xét xử thật nhanh chóng và thật công minh.
Thanh liêm là một đức tính thiêng liêng của các Thẩm phán Việt Nam ngày nay.2 Hay các thông tư nhự Thông tư số 39-NCPL ngày 20/1/1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc thụ lý, di lý, xếp và tạm xếp những việc kiện về hôn nhân gia đình và tranh chấp về dân sự, Thông tư số 06-TATC ngày 25-2-1974 hướng dẫn việc diéu tra trong tố tụng dân sự; Thông tư số 25-TATC ngày 30-11-1974 hướng dẫn việc hoà giải trong tố tụng dân sự; Chỉ thị số 69-TATC ngày 24-12-1979 về việc giải quyết vấn đề nhà, đảm bảo chỗ ở cho các đương sự sau ly hôn., Bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo Thông tư số 96 NCPL ngày 8/2/1977 của Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư số 691/QLTPK ngày 31/10/1983 Bộ Tư pháp ban hành hướng dẫn về công tác bào chữa. Tiếp đến là những năm Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI khởi xướng với mục tiêu tăng cường sự quản lý nhà nước bằng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Để đạt được mục tiêu đó, trong lĩnh vực tố tụng dân sự, !.Xem Điều 81 Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 về Cách tổ chức các toà án và các ngạch Thẩm phán trong nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. ? Xem Điều 83 Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 về Cách tổ chức các toà án và các ngạch Thẩm phán trong nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.
28 GIAO TRINH LUAT TO TUNG DAN SU VIET NAM Nhà nước ta đã thông qua Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29/11/1989. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên có giá trị cao quy định một cách hệ thống trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Thông qua Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, quyền con người trong tố tụng dân sự tiếp tục được ghi nhận và nâng cao. Điều này được thể hiện qua việc Pháp lệnh ghi nhận các nguyên tắc bảo đảm quyền con người được thực thi như nguyên tắc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp,! quyền tự định đoạt, quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tố tụng ? hay các quy định về quyền tố tụng của đương sự như quyền thay đổi yêu cầu, quyền yêu cầu độc lập, quyền đưa ra yêu cầu phản tố: quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng cứ, quyền được biết chứng cứ do bên kia cung cấp, quyền tham gia hòa giải, quyển tham gia phiên tòa; quyền yêu cầu thay đổi Thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên, thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch; quyền để xuất với Tòa án những vấn để cần hỏi người khác, quyền tham gia tranh luận tại phiên tòa; quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án quyền được ủy quyền, nhờ luật sư hoặc người khác tham gia tố tụng tại Tòa án, quyền và nghĩa vụ của người đại điện, người bảo vệ quyền lợi của đương sự.;* đồng thời pháp lệnh cũng quy định trách nhiệm của Toà án trong việc đảm bảo cho các quyền tố tụng của các đương sự được thực hiện.
Để đáp ứng kịp thời nhu cầu điều chỉnh xã hội bằng pháp luật trong thời kỳ đổi mới, Nhà nước ta thông qua bản Hiến pháp mới năm 1992 với một quy định riêng biệt về quyền con người đánh dấu một nhận thức mới về quyền con người ở Việt Nam. Đó là, quyển con người rộng hơn quyền công dân và liên hệ chặt chẽ với quyền công dân. Cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992, trong lĩnh vực pháp luật tố tụng dân sự 1 Xem Diéu 1 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29/11/1989. ? Xem Điều 2 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29/11/1989.
Xem Điều 4 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29/11/1989, +. Xem Điều 20 khoản 1 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29/11/1989. 5 Xem Điều 20 khoản 2 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29/11/1989, 5 Xem Điều 23, Điều 24, Điều 25 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29/11/1989. 7 Xem Điều 5, Điều 7, Điều 12.
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29/11/1989. Chương |: Nhận thức chung về quyền con người và pháp luật. 29 Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Luật sư năm 2001, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 để tiếp tục khẳng định quyển của các đương sự trong tố tụng dân sự, trách nhiệm của Tòa án cũng như vị trí, vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong quan hệ tố tụng dân sự. Như vậy, so với các giai đoạn trước, ở giai đoạn này quyền con người trong tố tụng dân sự đã được ghi nhận khá đầy đủ trong văn bản pháp luật có hiệu lực cao hơn (các luật thay vì pháp lệnh hay các thông tư.
Đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và chủ trương của cải cách tư pháp của Đảng, tại kỳ họp thứ 5 ngày 15 tháng 6 năm 2004, Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự đầu tiên nhằm bổ sung những thiếu sót trong pháp luật tố tụng dân sự như khắc phục sự thiếu đồng bộ, sự tản mạn, trùng lắp, qua đó tạo điều kiện để Tòa án có thể giải quyết nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật các vụ, việc dân sự, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ tố tụng dân sự. Sự ra đời của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã đánh dấu bước phát triển mới trong phi nhận và bảo vệ các quyền con người trong tố tụng dân sự. Đó là, các quyền con người đã được ghi nhận một cách rõ nét, dân chủ, công khai, minh bạch hơn qua các quy định về nguyên tắc của luật tố tụng dân sự, về quyền tố tụng của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch cũng như nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, người tiến hành tố tụng dân sự. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 qua đó đã tạo cho đương sự một vị trí chủ động, mang tính quyết định đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án đồng thời cũng đưa Tòa án về vị trí của trọng tài giữ vai trò trung gian- người cầm cân, nảy mực, người căn cứ vào kết quả tranh tụng giữa các bên đương sự để đưa ra phán quyết giải quyết các vụ việc dân sự.
Sau hơn 5 năm thi hành, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người thông qua việc bảo đảm trình tự và thủ tục tố tụng dân sự dân chủ, công khai, đơn giản, thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyển và nghĩa vụ của mình; đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động tố tụng dân sự; bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc 30 GIAO TRINH LUAT TO TUNG DAN SU VIET NAM dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh va dung phap luat. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự cũng cho thấy một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự còn bộc lộ những hạn chế dẫn đến việc hiểu và áp dụng chưa thống nhất các quy phạm pháp luật tố tụng dân sự, do đó, quyển con người trong quan hệ tố tụng của đương sự chưa đảm bảo, chưa đáp ứng được yêu cầu của các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, trong đó có các công ước quốc tế về quyền con người. Để khắc phục những hạn chế, bảo đảm nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động tố tụng dân sự nhằm tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng như bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người trong tố tụng dân sự, ngày 29/3/2011, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự và ngày 08/4/2011 Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Lệnh số 07/2011/L-CTN công bố Luật và có hiệu lực từ ngày 01/01/2012. Có thể nói, Bộ luật Tố tụng dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) đã có những sửa đổi, bổ sung để làm hoàn thiện và sâu sắc hơn cơ chế bảo vệ quyền con người trong tố tụng dân sự.
Cùng với Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) là nguồn cơ bản, hữu hiệu điều chỉnh không chỉ hành vi tố tụng mà còn là những đảm bảo pháp lý về quyền con người quan trọng trong lĩnh vực tố tụng dân sự.