Khai trừ khỏi tổ chức quốc té Khai trừ khỏi tổ chức quốc tế là chế tài mà t6 chức quốc tế đặt ra đối với các thành viên vi phạm nghiêm trọng, có hệ thống các nghĩa vụ của điều lệ tổ chức quốc tế và của luật quốc tế. Mục đích quy định chế tài này nhằm tăng cường tính tô chức cũng như hiệu quả hoạt động của tô chức quốc tế. Khi thành viên tô chức quốc tế bị khai trừ, tư cách thành viên cũng tự động cham dứt. Dinh chỉ quy chế thành viên tổ chức quốc té Dinh chỉ quy chế thành viên tổ chức quốc tế là chế tài tổ chức quốc tế áp dụng đối với các thành viên trong một thời gian do có vi phạm nghiêm trọng các nghĩa vụ của Điều lệ nhưng chưa đến mức bị khai trừ.
Trong khoảng thời gian đó, thành viên tổ chức quốc tế không được quyền biểu quyết trong các cơ quan của tổ chức quốc tế, tạm thời không thực hiện quyền đại diện trong cơ quan cao nhất của tổ chức quốc tế. Nhân viên của tổ chức quốc tế Nhân viên của tô chức quốc tế bao gồm các viên chức của tổ chức quốc tế và các chuyên gia thực hiện nhiệm vụ của tô chức quốc té. Viên chức của tổ chức quốc tế là những người được tô chức quốc tế lựa chọn theo thé thức bầu hoặc được tuyển dụng theo nhiệm kỳ và được trả lương dé thực hiện các công việc trong các cơ quan của tô chức quốc tế. Các viên chức của tổ chức quốc tế được hưởng các quyền ưu đãi nhất định dé họ thực hiện tốt chức năng của minh.
Vi du, viên chức của Liên hợp quốc được hưởng những ưu đãi và miễn trừ cần thiết dé họ thực hiện chức năng của mình đối với Liên hợp quốc theo khoản 2 Điều 105 Hiến chương và Công ước Viên năm 1946 về các quyền ưu đãi miễn trừ dành cho Liên hợp quốc. Tuy nhiên, chỉ có các viên chức cao cấp của tổ chức quốc tế như tông thư ký, các phó tổng thư ký và các giám đốc của một số cơ quan của Liên hợp quốc mới được hưởng các quyền ưu đãi 258 miễn trừ ngoại giao như các viên chức ngoại giao. Các viên chức còn lại chỉ được hưởng một số quyền ưu đãi miễn trừ như quyền miễn trừ tài phán của nước sở tại về những điều họ viết, nói và những hành vi do họ thực hiện, quyền miễn trừ thuế về tiền lương hoặc các khoản phụ cấp, được miễn những hạn chế về nhập cư và đăng ký người nước ngoài. Chuyên gia làm việc trong các phái đoàn của tổ chức quốc tế không phải viên chức của tổ chức quốc tế nhưng cũng được hưởng một số ưu đãi nhất định.
Hoạt động chức năng a. Hoạt động xây dựng và thực hiện luật quốc tế Hoạt động xây dựng pháp luật trực tiếp là hoạt động của tổ chức quốc tế với tư cách chủ thé của luật quốc tế. Các tổ chức quốc tế ký kết các điều ước quốc tế hoặc chap nhan các tập quán quôc tế dé thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tô chức quốc tế trong khuôn khổ thâm quyền mà các quốc gia thành viên trao cho tô chức. Hoạt động xây dựng pháp luật gián tiếp.
là hoạt động đưa ra sáng kiến, bảo trợ dé ký kết các điều ước quốc tế. Thông thường, tô chức quốc tế sẽ t6 chức các diễn đàn, các hội nghị dé các bên thương lượng và ký kết điều ước quốc tế, như các hội nghị luật biển của Liên hợp quốc, Hội nghị để ky Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia. Tô chức quốc tế cũng có thể tham gia soạn thảo các điều ước quốc tế. Thông thường, tổ chức quốc tế có thé thông qua các loại văn kiện với giá trị pháp lý khác nhau, chủ yếu theo ba dạng là những nghị quyết có giá trị pháp lý ràng buộc các quốc gia thành viên trong mọi trường hợp; những nghị quyết hoặc quyết định chỉ có giá trị ràng buộc các quốc gia thành viên trong những trường hợp cụ thé và các nghị quyết và quyết định mang tính chất khuyến nghi.
Tổ chức quốc tế cũng thiết lập nên các thiết chế để giám sat thực hiện các điều ước quốc tế mà tổ chức bảo đrợ ký kết, đặc biệt là các điều ước quốc tế về môi trường và quyền con người. Hoạt động nhằm xây dựng, hoàn thiện cơ cấu và ngân sách của tổ chức quốc tế Việc duy trì và thực hiện các hoạt động của tô chức quốc tế đòi hỏi phải có hệ thống cơ quan chặt chẽ và phải có ngân sách để thực hiện hoạt động của tô chức quốc té. Ngan sach cua tổ chức quốc tế do các thành viên đóng góp tiền để duy trì hoạt động của tổ chức quốc tế. Khi thành lập tô chức quốc tế, các quốc gia thông thương chỉ quy định về hệ thống các cơ quan chính, còn hệ thống các cơ quan bô trợ được thành lập theo nhu cầu hoạt động của các tô chức quốc tế.
KHÁI QUAT VE MỘT SO TÔ CHỨC QUỐC TE 1. Liên hợp quốc (The United Nations - the UN)” Liên hợp quốc được thành lập ngày 24/10/1945, trên cơ sở của Hiến chương Liên hợp quốc. Đến nay (12/2015), Liên hợp quốc đã có 193 thành viên. Tôn chỉ, mục đích Theo Điều 1 Hiến chương, Liên hợp quốc theo đuôi mục dich trở thành trung tâm phôi hợp mọi hành động của các dân tộc nhăm đạt được những mục đích như duy trì hoà bình và an ninh quôc tê; phát triên những quan hệ hữu nghị giữa các nước trên cơ so tôn trọng nguyên tac bình đăng, dân tộc tự quyét, thực hiện sự hợp tác quôc tê trong việc giải quyết các vân dé quôc tê như kinh tê, xã hội, văn hoá, nhân đạo.
Trong hơn năm mươi năm hoạt động, mặc dù có nhiều bước thăng trầm nhưng Liên hợp quốc đã có nhiều nỗ lực dé thực hiện các tôn chỉ, mục đích của mình. Nguyên tắc Các nguyên tắc tô chức và hoạt động của Liên hợp quốc được quy định tại Điêu 2 Hiên chương bao gôm: - Bình đăng về chủ quyền của các quốc gia thành viên. Tham khảo thêm tại http://www.org/en/index.html 260 - Các thành viên Liên hợp quốc phải thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ theo quy định của Hiến chương. - Các thành viên của Liên hợp quốc phải giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hoà bình.
- Các thành viên của Liên hợp quốc phải từ bỏ đe dọa dùng vũ lực hay sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. - Các thành viên của Liên hợp quốc có nghĩa vụ giúp đỡ Liên hợp quốc trong mọi hành động của Liên hợp quốc. - Đề duy trì hoà bình va an ninh quốc tế, Liên hợp quốc dam bảo để các quốc gia không phải là thành viên Liên hợp quốc cũng hành động theo các nguyên tắc nêu trên. - Liên hợp quốc không được phép can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyên nội bộ của bat kỳ quốc gia thành viên nào.
Những nguyên tac của Liên hợp quốc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành cơ sở bảo đảm cho Liên hợp quốc thực hiện tốt vai trò là trung tâm phối hợp hành động của các quốc gia vì sự hoà bình và hợp tác. Các cơ quan chính * Đại hội đồng Đại hội đồng là cơ quan duy nhất của Liên hợp quốc có sự tham gia của tất cả các quốc gia thành viên. Đại hội đồng có thâm quyền rất rộng trong các lĩnh vực hợp tác chính tri, kinh tẾ, văn hoá, xã hội. Theo Điều 10 Hiến chương Liên hợp quốc, Đại hội đồng có quyền thảo luận và đưa ra kiến nghị về tất cả các vẫn dé thuộc phạm vi Hiến chương hoặc thuộc bat kỳ thâm quyền của các cơ quan của Liên hợp quốc cho các thành viên Liên hợp quốc hoặc Hội đồng bảo an.
Để thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Hiến chương, Đại hội đồng thành lập 6 uy ban chính: Uy ban 1 (Giải trừ quân bị và an ninh quốc tế); Uỷ ban 2 (Kinh tế- tài chính); Uỷ ban 3 (Van hoá, xã hội và nhân đạo); Uy ban 4 (Chính tri đặc biệt 261 và phi thực dan hoá); Uy ban 5 (Hành chính - Ngân sách); Uy ban 6 (Pháp luật quốc tế). Hoạt động của Đại hội đồng được thực hiện thông qua các khoá họp thường kỳ hàng năm và họp những khoá bất thường (Điều 20). Theo Nghị quyết 51/241 (1997) các khoá họp bắt đầu vào ngày thứ ba đầu tiên sau ngày 1/9. Các khoá họp bất thường (đặc biệt) có hai loại là khoá họp đặc biệt và đặc biệt khan cấp.
Theo Điều 18 Hiến chương, việc biểu quyết thông qua các nghị quyết của Đại hội đồng được thực hiện trên nguyên tắc bình đăng. Các nghị quyết về các van dé quan trọng, như liên quan đến duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, bầu các ủy viên không thường trực và ủy viên của Hội đồng kinh tế - xã hội, kết nạp thành viên mới, khai trừ thành viên. phải thông qua với đa số áp đảo (2/3) của các thành viên tham gia và bỏ phiếu. Các vấn đề khác thông qua bang da số thường.
Đại hội đồng cũng có thé dùng hình thức đồng thuận nếu các thành viên có sự nhất trí cao (consensus). * Hội đồng bảo an Theo Điều 24 Hiến chương Liên hợp quốc, Hội đồng bảo an là cơ quan lãnh đạo chính trị thường trực của Liên hợp quốc, chịu trách nhiệm chính trong việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Hội đồng bao an có thé áp dụng các biện pháp nhằm giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế hoặc các xung đột; khi cần thiết có thê sử dụng hành động, kê cả bằng cưỡng chế và vũ lực, nhằm loại trừ các mối đe dọa, phá hoại hoà bình hoặc các hành động xâm lược. Hội đồng bảo an gồm 15 thành viên, trong đó có 5 ủy viên thường trực và 10 ủy viên không thường trực.
Hiện nay, 5 ủy viên thường trực bao gồm Cộng hoà Liên bang Nga, (1) Cong hoa dân chủ nhân dân Trung Hoa, Cộng hoa Pháp, Liên hiệp Vuong (1). Trong thư gửi Tổng thư ký Liên hợp quốc ngày 24/12/1991, Tổng thống Liên bang Nga đã tuyên bố Liên bang Nga sẽ kế thừa tư cách thành viên của Liên Xô cũ tại Hội đồng bảo an cũng như các cơ quan khác của Liên hợp quốc với sự ủng hộ của 11 quốc gia còn lại của Cộng đồng các quốc gia độc lập. 262 quốc Anh và Bắc Ailen, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.