CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VÈ NGÂN HÀNG VÀ LUẬT NGÂN HÀNG I. KHÁI QUÁT VÈ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ NGÂN HÀNG 1. Lịch sử hình thành, phát triển hoạt động ngân hàng và hệ thống ngân hàng 1. Quả trình hình thành hoạt động ngân hàng sơ khai Nghiên cứu nguồn gốc, quá trình hình thành hoạt động ngân hàng để nhận diện qui luật phát triển pháp luật về hoạt động ngân hàng là một trong những nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu của pháp luật ngân hàng.
a) Tiền đề kinh tế - xã hội cho sự xuất hiện các hoạt động ngân hàng sơ khai Lịch sử kinh tế thế giới không lưu lại những bàng chứng trực tiếp, chính xác và thuyết phục về sự xuất hiện các hoạt dộng ngân hàng sơ khai. Những tranh luận liên quan thời gian, địa điểm hình thành các hoạt động ngân hàng sơ khai trên thế giới, hay “tác giả” đầu tiên phát minh ra hoạt động ngân hàng. là những câu hỏi không có giải đáp chính xác. Để có kết luận một cách khoa học và khách quan về nguồn gốc hình thành các ngân hàng và hoạt động ngân hàng chi có thể dựa trên cơ sở luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng.
Từ phương pháp luận này có thể chứng minh rằng, hoạt động ngân 10 hàng không là “phát minh” của một cá nhân, một nhóm người hay một dân tộc cụ thể nào mà là hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính tất yếu và quy luật. Các hoạt động ngân hàng sơ khai xuất hiện khi hội đủ các yếu tố sau: - Có sự phân công lao động trong xã hội và cải tiến phương thức sản xuất và công cụ lao động, khi đó của cải trong xã hội làm ra có dư thừa và tích luỹ, song tích luỹ không dưới hình thức hiện vật mà dưới dạng tiền tệ. - Sự xuất hiện của tiền tệ. Khi đó tiền tệ đóng vai trò là công cụ trung gian trao đổi trong nền kinh tế và là công cụ tích luỹ của cải dư thừa để dành.
Xuất hiện một nhóm người chuyên nhận giữ hộ tiền dư thừa của dân chúng. - Nhu càu sử dụng vốn tiền tệ vào mục đích tiêu dùng, đầu tư. Xuất hiện một nhóm người cần tiền, phải đi vay, mượn để đầu tư. Trong bối cành đó, các hoạt động nhận giữ tiền nhàn rỗi, cho vay tiền để sàn xuất kinh doanh, trao đổi mua bán các loại tiền tệ được hình thành dưới các hình thức đơn giản và sơ khai.
b) Các hình thái sơ khai của hoạt động ngân hàng Các hình thái sơ khai của hoạt động ngân hàng xuất hiện vào thời kỳ cổ đại trên lãnh thổ nhà nước Babilon, Ai Cập, Hy Lạp, Xpác, Aten, La M ã.dưới các hình thức sau: Hình thức thứ nhất: hoạt động nhận giữ tiền của công chúng và cho vay lại. 11 Xuất phát từ địa vị xã hội nhất định nên nhũng tộc trưởng, chủ tiệm vàng, chủ tiệm cầm đồ, người quản lý nhà th ờ. được dân chúng tin tưởng, tín nhiệm giao phó việc bảo quản, giữ gìn tiền, vàng, tài sản dư thừa mà người dân tích lũy. Trong khi đó, một nhóm người khác là các thợ thủ công, thưong gia cần tiền, vàng để buôn bán, kinh doanh.
Do vậy, những người nhận giữ tiền vàng của dân chúng đã cho những nhà buôn, thợ thủ công vay khoản tiền nhàn rỗi này. Như vậy, những tộc trưởng, chủ tiệm vàng, chủ tiệm cầm đồ, người quản lý nhà thờ nói trên “ngẫu nhiên” đóng vai trò là các trung gian tài chính trong việc chuyển dịch nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi đến nơi có nhu cầu sử dụng. Đây là các biểu hiện sơ khai của hoạt động tín dụng. Những người thực hiện hoạt động nàycó thể gọi họ là những nhà “ngân hàng” đầu tiên trong lịch sừ.
Hình thức thứ hai: hoạt động mua bán, chuyển đổi các loại tiền tệ. Vào giai đoạn hưng thịnh của đế quốc La Mã, với sự phát triển kinh tế, nhu cầu trao đổi, mua bán giữa các vùng lãnh thổ, các thành phố, các quốc gia trên lãnh thổ châu Âu tăng cao. Tuy nhiên, cũng trong thời gian này, mỗi quốc gia, thậm chí mỗi thành phố, tồn tại một loại tiền riêng. Để khắc phục sự khác biệt ấy, tại các trung tâm mua bán, các hội chợ thương mại xuất hiện những “cái bàn” (banco) của những “nhà buôn tiền” chuyên đảm nhận các giao dịch mua bán, trao đổi các loại tiền tệ.
Những loại tiền khác nhau có nguồn gốc 12 từ các quốc gia khác nhau sẽ được đổi ra đồng tiền bản địa và ngược lại. Như vậy, hoạt động trao đổi các loại tiền nói trên có thể ghi nhận là hình thái sơ khai của hoạt động m ua bán - trao đổi tiền tệ (kinh doanh tiền tệ) của các ngân hàng1. Hình thức thứ ba: hoạt động thanh toán (chi trả) không dùng tiền mặt. Do đối mặt với những rủi ro bị cướp bóc dọc đường vận chuyển và những trờ ngại khi vận chuyển những khối lượng tiền kim loại lớn, các thương gia thời bấy giờ không muốn mang theo người tiền mặt bằng kim loại.
Để đáp ứng nhu cầu chi trả trong giao dịch thương mại mà không phải vận chuyển và chi trả bằng tiền mặt, một dịch vụ ngân hàng mới được hình thành thông qua hình thức thanh toán với sự trợ giúp của các chứng thư2. Chứng thư này là hình thái sơ khai nhất của các loại công cụ thanh toán hiện hành như hối phiếu (“lettera De Combio” theo 1 Xem: Sersenhevich. Giáo trình Luật Thương mại, Tập III.(Phần Ngân hàng và hối phiếu) Nhà xuất bản “ Basmakôvích” San. (Bản tiếng Nga) 2 Qui trình này như sau: các thương nhân nộp tiền mặt cho những “cái bàn” trên lãnh thổ quốc gia mình, đồi lại, họ nhận một chứng thư.
Trên chứng thư có thể hiện các nội dung: số tiền nộp, người nộp, người thu, người sẽ chi trà, địa điểm chi trả. Thương nhân này mang theo chứng thư khi đến lãnh thổ quốc gia khác sẽ xuất trình chứng thư này để nhận một loại tiền trong lưu hành trên lãnh thô quôc gia đó, tất nhiên có eiá trị tương đương với số tiền đã nộp. Các chứng thư này có nội dung và hình thức theo một khuôn mẫu nhất định và dần dân thành một qui tắc, thông-lệ thống nhất sử dụng rộng rãi trong thương mại từ thế kỳ XII- XIII. 13 tiếng La tinh là thư hoặc giấy “để chuyển đổi”), chi phiếu (séc).
Ba hoạt động trên là các hình thức sơ khai đầu tiên làm tiền đề cho các hoạt động ngân hàng hiện nay gồm: trung gian tín dụng, kinh doanh ngoại tệ và cung ứng các dịch vụ thanh toán3. Quá trình hình thành và phát triển hệ thống ngân hàng trên thế giới a) Giai đoạn hình thành các ngân hàng đầu tiên Bối cảnh kỉnh tế - xã hội: Song hành với sự phát triển kinh tế, nhu cầu vốn để đáp ứng hoạt động đầu tư, thương mại càng ngày càng lớn nên các hoạt động ngân hàng đơn lẻ không đáp ứng được. Mặt khác, hoạt động giao thương giữa các thành phố, quốc gia gia tăng nên nhu cầu thu đổi tiền tệ, chi trả hộ các giao dịch thương mại tăng cao. Trong bối cảnh đó, các chủ tiệm cầm đồ, các nhà buôn tiền liên kết với nhau chính thức thành lập các “hội buôn” hoặc “công tv”.
Những “hội buôn”, “công ty” này có trụ sở giao dịch chính thức, có biển hiệu và thực hiện hoạt động huy động vốn, cho vay, mua bán vàng, thu đổi tiền tệ, phát hành các chứng thư thay thế tiền mặt sử dụng để thanh toán. Đây là các ngân hàng chính thức đầu tiên trong lịch sử ngân hàng thế giới. Những ngân hàng chính thức đầu tiên trên thế giới, theo các nhà nghiên cứu ghi nhận, đó là 4: 3 v ề quá trình hình thành và phát triến hoạt động ngân hàng xem thêm: TS. Lê Vinh Danh.
Tiền và hoạt động ngân hàng, NXB. Chính trị quốc gia, H. Luật Ngân hàng Nga. Lý luận - Luật thực định - Thực tiễn.
14 - Ngân hàng Genoa thành lập vào năm 1407 trên cơ sở họp nhất các nhà kinh doanh tiền; - Năm 1463 một tổ chức hợp tác của doanh nhân trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tại Orvieto được thành lập; - Năm 1467 tại Perugia một tổ chức tương tự được thành lập; - Năm 1584 trên cơ sở họp nhất các ngân hàng tại Venice (Venezia,) thành Ngân hàng Venice. Ba năm sau ngân hàng này chuyển đổi thành ngân hàng nhà nước, đến 1619 chuyển đổi thành ngân hàng thanh toán bù trừ hoạt động cho đen 1807 thì giải thể; - Tiếp theo sự xuất hiện các ngân hàng ờ Italy là các ngân hàng ở Hà Lan. Năm 1609 Ngân hàng Amsterdam được phép thành lập hoạt động cho đến năm 1795; - Năm 1619 Ngân hàng Hamburg thành lập, năm 1873 chuyển đổi thành chi nhánh Ngân hàng Hoàng đế Đ ức. Các tài liệu nghiên cửu lịch sử ngân hàng sử dụng thuật ngữ "‘hệ thống ngân hàng một cấp” để chỉ hệ thống ngân hàng của các quốc gia trong giai đoạn này.
Đặc điểm chung của hệ thống ngân hàng trong giai đoạn này là: Thứ nhất, toàn bộ các ngân hàng thuộc sở hữu tư nhân, tức là do các cá nhân, gia đình, nhóm các thương nhân bỏ vốn thành lập và quản lý; Thứ hai, lĩnh V'ực kinh doanh của các ngân hàng trong giai đoạn này không hạn chế. phụ thuộc vào khả năng của mình mà 15 mỗi ngân hàng có thể thực hiện một số hoặc toàn bộ các hoạt động như huy động vốn. cho vay, kinh doanh ngoại tệ, vàng, kim loại quý kể cả hoạt động phát hành các chứng thư dùng thanh toán thay tiền; Thứ ba, các ngân hàng này hình thành tự phát và hoạt động như nhu cầu tự thân của nền kinh tế. Tác động của nhà nước và pháp luật đối với hệ thống ngân hàng hầu như không có gì hoặc rất mờ nhạt.
Quan hệ kinh doanh giữa ngân hàng và khách hàng cũng như giữa các ngân hàng vói nhau chủ yếu xây dựng trên cơ sở tín nhiệm và được điều chỉnh, chi phối bởi các tập quán, thông lệ thương mại. b) Giai đoạn chuyển đổi và hoàn thiện hệ thống ngân hàng, hình thành hệ thống ngân hàng “hai cấp ”5 Bối cảnh kỉnh tế - xã hội: Đến khoảng thế kỷ XVIII, tại châu Âu hoạt động thương mại được mờ rộng, phương thức kinh doanh “hàng đổi hàng” không còn phù hợp. Thay vào đó là các giao dịch mua bán thông qua trung gian là tiền do các ngân hàng phát hành có bảo đảm bằng vàng.