CHƯƠNG I LÝ THUYẾT TỔ CHỨC VÀ CẤU TRÚC TỔ CHỨC TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG 1.LÝ THUYẾT TỔ CHỨC 1. Khái niệm Họat động có ý thức của con người luôn nhắm đến một mục đích nào đó, để đạt được, con người đã biết phối hợp hành động, cách thức phối hợp đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp và được xem là họat động có tổ chức. Vậy, " Tổ chức là công cụ mà con người sử dụng để phối hợp với nhau nhằm đạt tới một điều gì đó mà con người mong muốn hoặc tạo ra giá trị” ; theo quản trị học thì “ Tổ chức bộ máy là tổng hợp các bộ phận khác nhau, có mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hóa và có những trách nhiệm, quyền hạn nhất định, được bố trí theo những cấp, những khâu khác nhau nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản trị và phục vụ mục đích chung đã xác định của tổ chức. Sự phát triển của một tổ chức là một chuỗi các họat động để tạo ra giá trị bao gồm sự kết hợp 03 yếu tố là con người – các yếu tố đầu vào – công nghệ để tạo ra sản phẩm trong một môi trường nhất định.
Môi trường bao gồm tất cả các yếu tố tác động trực tiếp, gián tiếp tạo nên sự ổn định hay bất ổn của việc cung cấp các yếu tố đầu vào, con người, công nghệ, người mua hàng, đối thủ cạnh tranh, pháp luật … 1. Những yêu tố chủ yếu chi phối việc xây dựng tổ chức 1. Mục tiêu và chiến lược họat động của tổ chức Chiến lược xác định chức năng và nhiệm vụ của tổ chức và là căn cứ để xây dựng bộ máy. Tiếp theo chiến lược quyết định lọai công nghệ kỹ thuật và con người phù hợp để đạt được mục tiêu và chính công nghệ và con người quyết định mô hình tổ chức và cơ cấu tổ chức 1.
Môi trường kinh doanh Môi trường của tổ chức có khuynh hướng và phổ biến là thiếu sự ổn định do nguồn lực ngày càng trở nên khan hiếm và sự cạnh tranh ngày càng gia tăng, lý thuyết về sự phụ thuộc vào môi trường và lý thuyến tiết giảm chi phí đã tác động đến việc hình thành các loại hình tổ chức như sau : 4 a) Lý thuyết về sự phụ thuộc vào môi trường. Lý thuyết này nhận định : - Các tổ chức phụ thuộc vào môi trường vì nguồn lực. - Các tổ chức luôn cố gắng tạo thế chủ động để nắm lấy nguồn lực. - Các tổ chức muốn dự báo được hoạt động thì cần phải chủ động được nguồn lực.
- Mục tiêu của các tổ chức là hạn chế tối đa sự phụ thuộc vào nguồn cung cấp đang có khuynh hướng khan hiếm. - Các tổ chức cạnh tranh để giành nguồn lực. Từ đó, các tổ chức có hai khuynh hướng : i) Sự phụ thuộc cộng sinh chi phối hình thành các kiểu tổ chức như là : Phát triển danh tiếng; Sự xâm nhập lẫn nhau; Liên minh chia sẻ nguồn lực; Hợp đồng dài hạn; Phát triển mạng liên kết ; Chia nhỏ cổ phần để gia tăng số lượng các cổ đông , ii) Sự phụ thuộc cạnh tranh dẫn đến hình thành : Thông đồng và thỏa thuận ngầm giữa các tổ chức cạnh tranh; Cơ chế liên kết với bên thứ 3 để điều chỉnh cạnh tranh; Các liên minh chiến lược; Sáp nhập và thôn tính… b) Lý thuyết tiết giảm chi phí giao dịch. Lý thuyết này cho rằng, mục tiêu của tổ chức là tối thiểu hóa chi phí giao dịch nguồn lực và chi phí giao dịch nội bộ ( chi phí hành chính).
Nguồn gốc của chi phí giao dịch gồm : i) Môi trường không ổn định và giới hạn khả năng xử lý của con người ; ii) Chủ nghĩa cơ hộ, bè phái cục bộ và iii) Rủi ro. Lý thuyết này tác động đến các tổ chức : - Cơ chế liên kết phụ thuộc vào chi phí giao dịch, chi phí hành chính. - Tổ chức sẽ chọn cơ chế liên kết mà tiết kiệm được nhiều nhất chi phí giao dịch và chi phí hành chính thấp nhất. Ví dụ : Hình thức liên kết giữa tập đoàn tài chính và tập đoàn công nghiệp gọi là Keiresu của Nhật bàn là một hình thức liên kết vốn (tham dự cổ đông lẫn nhau); Mỗi tập đoàn có rất nhiều cổ đông, chỉ có các cổ đông lớn chứ không có các cổ đông nắm quyền chi phối (giữ trên 50% cổ phiếu), như vậy nếu là một cổ đông lớn thì trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các công ty con, công ty cháu, chắt …có thể kiểm soát được nhiều lĩnh vực và nhiều mối quan hệ (trên cơ sở góp vốn) nên chủ động được nguồn lực và tiếp theo cổ phiếu không tập trung vào một số cổ đông nên tránh được chủ nghĩa cơ hội là nguồn gốc của chi phí giao dịch tăng cao.
5 Một vài kiểu liên kết tổ chức như franchising và outsouring cũng được giải thích trên cơ sở của lý thuyết tiết giảm chi phí giao dịch. Khoa học công nghệ KHCN đã trở thành một yếu tố quyết định của nền kinh tế tri thức thay thế cho nền kinh tế công nghiệp, KHCN đã làm cho thông tin được khai thác và xử lý hiệu quả hơn, máy móc thiết bị thay thế dần các thao tác của con người đã làm cho năng suất mỗi ngành nghề nói riêng và xã hội nói chung tăng lên rất cao. KHCN đã phá vỡ hầu như tất cả các mô hình tổ chức kém linh họat và xây dựng mô hình tổ chức mới theo hướng khai thác cao khả năng ứng dụng KHCN để tăng sức cạnh tranh. Con người Cơ cấu tổ chức phải phù hợp với năng lực và trình độ của đội ngũ lao động.
Năng lực và trình độ của đội ngũ lao động thấp thì không thể vận hành được một cơ cấu tổ chức phức tạp, hoặc cơ cấu tổ chức có khả năng ứng dụng KHCN cao được và ngược lại. Những nguyên tắc cơ bản của tổ chức - Thống nhất ( tuân thủ tính hệ thống) - Chất lượng làm trọng - Gắn với mục tiêu và chức năng - Hiệu quả - Linh họat - Tam quyền phân lập : Nhà đầu tư – Người điều hành – Người lao động. - Chuyên môn hóa - Phù hợp với môi trường - Kết hợp quyền lợi,quyền hạn và trách nhiệm - Không chồng chéo 1.MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG Tập đòan kinh tế được hiểu là một sự liên kết của nhiều công ty, chủ yếu là dưới hình thức góp vốn cổ phần, hoạt động trên nhiều lĩnh vực nhằm thu được lợi nhuận tối đa. Quá trình hình thành tập đoàn phụ thuộc vào khả năng tích tụ vốn, trình độ tổ chức, công nghệ và quy mô thị trường.
Tập đòan kinh tế đã hình từ nửa cuối thế kỷ 19 khi nền sản xuất hàng hóa trên thế giới phát triển mạnh mẽ nhờ sự tác động trực tiếp của cuộc cách mạng công nghiệp ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, 6 quá trình cạnh tranh phát triển đã hình thành nhiều liên minh với các tên gọi phổ biến như Cartel; Association; Cheabol; Keiresu; Group …tất cả đều là các liên minh, liên kết và cùng thỏa thuận phối hợp chiến lược, góp vốn, cung ứng sản phẩm, phân chia thị trường… 1. Các điều kiện để hình thành tập đòan tài chính – ngân hàng TĐ TC – NH là tập đòan kinh tế họat động chính xuất phát từ lĩnh vực tài chính và ngân hàng. TĐ TC – NH chỉ hình thành khi đã hội đủ một số điều kiện nhất định hay nói cách khác việc hình thành TĐ TC – NH là một phạm trù lịch sử. Sự can thiệp của Nhà nước chỉ là một điều kiện cần mang ý nghĩa hỗ trợ và thúc đẩy.
Các điều kiện để hình thành TĐ TC – NH 1. Điều kiện khách quan Nền kinh tế phát triển đến một mức mà đòi hỏi có sự tích tụ vốn lớn trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, thông thường là giai đọan công nghiệp hóa nền kinh. Các tập đòan tích tụ vốn dưới nhiều hình thức như góp vốn, sáp nhập, liên doanh liên kết, thôn tính. Giai đọan này nhu cầu vốn đầu tư rất lớn, các thị trường phát triển mạnh tạo tiền đề cho một số ngân hàng thương mại lớn dần chuyển sang mô hình tập đòan để có thể huy động được một lượng vốn từ công chúng, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.
Điều kiện kế tiếp là phải có một nền sản xuất hàng hóa phát triển từ đó làm cho mức độ cạnh tranh của nền kinh tế gia tăng, các doanh nghiệp có khuynh hướng mở rộng quy mô nhằm phát huy lợi thế theo quy mô để tiết giảm chi phí và chủ động được nguồn lực. Các ngân hàng thương mại mở rộng mạng lưới họat động để huy động được nguồn vốn nhàn rỗi từ công chúng với giá rẻ và mở rộng thị trường bán lẻ, đa dạng hóa khách hàng để tăng tính ổn định tránh nguy cơ bị thôn tính hoặc phá sản. Ngày nay, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã làm cho mức độ cạnh tranh gay gắt hơn, không còn trong phạm vi một quốc gia mà là tòan cầu, làm cho các ngân hàng luôn phải mở rộng quy mô, chủ yếu là tham gia vốn cổ phần dưới dạng công ty mẹ - công ty con để từ đó hình thành một chuỗi các công (công ty mẹ – công ty con – công ty cháu – công ty chắt …) theo mô hình tập đòan. Cuối cùng là để phòng chống rủi ro đang gia tăng do chính nội tại của nền kinh tế tòan cầu sinh ra và nhu cầu đa dạng của khách hàng nên các ngân hàng thương mại cũng có khuynh hướng họat động đa năng.
Vai trò của Nhà nước : 7 Tạo môi trường pháp lý cho họat động của tập đòan nói chung và TĐ TC – NH nói riêng. Nhà nước không nên nóng vội áp đặt chủ quan để hình thành các TĐ TC – NH khi các điều kiện khách quan chưa hội đủ. Ngân hàng là một lĩnh vực rất nhạy cảm với nền kinh tế, khi đã hình thành tập đòan thì mức độ ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế là rất lớn, nếu xảy ra một sự đổ vỡ do tác động của nhà nước trong khi các điều kiện hình thành chưa chín muồi sẽ dẫn đến một ảnh hưởng rất xấu đến nền kinh tế, do vậy nhà nước chỉ nên tạo môi trường pháp lý để thúc đẩy quá trình hình thành cũng như môi trường họat động lành mạnh làm giảm thiểu xu hướng độc quyền của các tập đòan.