CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT KINH TẾ Mã chương: LKT01 Giới thiệu: Trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về Luật kinh tế như khái niệm, đối tượng, phương pháp điều chỉnh, chủ thể, vai trò của Luật kinh tế đối với nền kinh tế quốc dân. Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm Luật kinh tế; - Trình bày được lịch sử hình thành và phát triển của Luật kinh tế; - Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của Luật kinh tế đối với hoạt động kinh doanh của xã hội; - Trung thực, nghiêm túc trong nghiên cứu. Nội dung chính: 1. Khái niệm Luật kinh tế 1.
Khái niệm Luật kinh tế Thời kỳ bao cấp: Luật kinh tế có thể hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, quy định thể chế quản lý chặt chẽ và toàn diện của Nhà nước đối với các đơn vị kinh tế quốc doanh từ chế độ sở hữu tài sản đến tổ chức hoạt động sản xuất, các quan hệ hợp đồng, chế độ phân phối nhằm đảm bảo tính kế hoạch hóa và bao cấp của Nhà nước. Đặc trưng: - Hệ thống pháp luật được xây dựng trên nền tảng chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội; - Các chủ thể không có quyền tự do kinh doanh; - Xác lập sự can thiệp toàn diện của Nhà nước vào tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Công cuộc đổi mới: Nền kinh tế không còn vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung mà vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, với nền tảng là sự công nhận quyền tự do sở hữu, quyền tự do kinh doanh, đồng thời chịu nhiều tác động tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Sự thay đổi tính chất của các quan hệ kinh tế - pháp luật giữa Nhà nước và các chủ thể kinh doanh thể hiện: - Thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần; - Phạm vi quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp được không ngừng mở rộng, từ chỗ “tự do kinh doanh theo quy định pháp luật” đến “tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.
8 - Vai trò can thiệp, kiểm soát của nhà nước cũng được thu hẹp rất nhiều theo xu hướng tôn trọng và đảm bảo thực hiện những hành vi không trái pháp luật của người kinh doanh (thương nhân). Trong thực tiễn kinh doanh và quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh, khái niệm Luật kinh tế được sử dụng với ý nghĩa là lĩnh vực pháp luật bao gồm tổng thể các quy định pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức, quản lý và tiến hành hoạt động kinh doanh, bao gồm quá trình hình thành các loại chủ thể kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh thông qua các giao dịch hợp đồng của doanh nghiệp, quá trình giải thể, phá sản và giải quyết tranh chấp trong thương mại. Tuy nhiên, Luật kinh tế không phải là cơ sở pháp lý giải quyết mọi vấn đề phát sinh trong mọi quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải tìm kiếm đến các quy định khác trong Luật Tài chính, Luật Ngân hàng, Luật Đất đai, Luật Lao động.
Đối tượng, phương pháp điều chỉnh của Luật kinh tế a. Đối tượng điều chỉnh của Luật kinh tế - Điều chỉnh mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp như: Mua bán vật tư, tiêu thụ sản phẩm, cung ứng dịch vụ, đây là nhóm quan hệ chủ yếu mà ngành Luật kinh tế điều chỉnh có các đặc điểm sau: + Phát sinh trực tiếp trong sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; + Chủ thể của nhóm quan hệ này là các doanh nghiệp; + Nhóm quan hệ này chủ yếu phát sinh thông qua Hợp đồng thương mại. - Điều chỉnh mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa cơ quan quản lý Nhà nước với doanh nghiệp Quan hệ phát sinh giữa cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế với các Doanh nghiệp, có đặc điểm chung phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế, chủ thể tham gia nhóm quan hệ này có địa vị pháp lý khác nhau. Một bên là cơ quan quản lý kinh tế cấp trên, một bên là đơn vị kinh tế cấp dưới.
Cơ sở pháp lý phát sinh quan hệ này là các văn bản quản lý. Ví dụ: Quy định về ngành nghề kinh doanh; nghĩa vụ nộp thuế; các văn bản về bảo vệ tài nguyên môi trường. - Điều chỉnh mối quan hệ kinh tế phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp: Các doanh nghiệp được cấu thành từng bộ phận, phân xưởng, đội sản xuất. việc sản xuất của bộ phận này được tiến hành trên cơ sở hạch toán nội bộ, hoặc chế độ khoán trong quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi bộ phận hợp thành có vai trò khác nhau trong việc tạo ra sản phẩm hay kết quả công việc giữa chúng phát 9 sinh những quan hệ nhất định.
Quan hệ đó người ta gọi là quan hệ nội bộ. Đặc điểm của nhóm quan hệ này là chúng phát sinh trong nội bộ một doanh nghiệp khi chúng tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Mỗi bộ phận hợp thành trong một doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân quan hệ nội bộ được điều chỉnh chủ yếu bằng các quy định của bản thân đơn vị đó nhưng phải phù hợp với Pháp luật. Ví dụ: Quan hệ giữa các phân xưởng với nhau, giữa phân xưởng với các Phòng, ban, bộ phận.
Phương pháp điều chỉnh của Luật kinh tế. - Phương pháp thoả thuận (bình đẳng): Là phương pháp chủ yếu điều chỉnh những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp đó là các đơn vị sản xuất hàng hoá độc lập với nhau. Theo phương pháp này những vấn đề mà các bên tham gia quan tâm đều được giải quyết trên cơ sở bình đẳng, thoả thuận bàn bạc. - Phương pháp mệnh lệnh (quyền uy): Là phương pháp sử dụng quyền lực Nhà nước chủ yếu để điều chỉnh quan hệ kinh tế phát sinh, trong lĩnh vực quản lý sản xuất kinh doanh.
Chủ thể tham gia quan hệ này ở vào vị trí không bình đẳng, một bên là cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế, một bên là các doanh nghiệp trực thuộc, bản chất của phương pháp này là thể hiện ở chỗ cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế có quyền đưa ra những quyết định bắt buộc đối với đơn vị kinh tế cơ sở trực thuộc ở mức độ nhất định, phương pháp này là sự cần thiết cho quản lý của Nhà nước. Ví dụ: Thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước (thuế), các quy định bắt buộc trong việc sản xuất kinh doanh, buôn bán, bảo vệ tài nguyên môi trường. Chủ thể của Luật kinh tế 2. Khái niệm về chủ thể kinh tế Chủ thể của Luật kinh tế là các tổ chức, cá nhân có những quyền và nghĩa vụ pháp lý khi tham gia vào các quan hệ kinh tế do Luật kinh tế điều chỉnh.
Phân loại chủ thể kinh tế - Nếu căn cứ vào chức năng hoạt động của chủ thể luật kinh tế gồm: + Cơ quan có chức năng quản lý kinh tế: Đây là những cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện chức năng quản lý kinh tế, gồm cơ quan quản lý có thẩm quyền chung, cơ quan quản lý có thẩm quyền riêng. + Các đơn vị có chức năng sản xuất kinh doanh trong đó gồm các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và cả cá nhân được phép kinh doanh, nhưng chủ yếu là các doanh nghiệp - Nếu căn cứ vào vị trí, vai trò và mức độ tham gia vào các quan hệ luật kinh tế thì có các chủ thể sau: 10 + Chủ thể chủ yếu và thường xuyên của luật kinh tế. Đó là các doanh nghiệp bởi vì trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường của nước ta, các doanh nghiệp được thành lập với mục đích chủ yếu là tiến hành các hoạt động kinh doanh. Sự tồn tại của chúng gắn liền với hoạt động kinh doanh, vì thế chúng thường xuyên tham gia vào các quan hệ kinh tế.
Tức là sự tham gia vào các quan hệ kinh tế của các doanh nghiệp thể hiện tính phổ biến, tính liên tục và phạm vi rộng rãi. + Chủ thể không thường xuyên của luật kinh tế. Đó là những cơ quan hành chính sự nghiệp như trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu và các tổ chức xã hội trong quá trình hoạt động cũng ký kết Hợp đồng thương mại để phục vụ cho hoạt động chính của đơn vị. Sự tham gia vào các quan hệ do luật kinh tế điều chỉnh của các tổ chức này là không thường xuyên liên tục do đó chúng không phải là chủ thể, thường xuyên chủ yếu của luật kinh tế.
Điều kiện trở thành chủ thể của Luật kinh tế - Phải được thành lập một cách hợp pháp: Những cơ quan, tổ chức được coi là thành lập hợp pháp khi chúng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập hoặc tuân thủ các thủ tục do luật định ra được tổ chức dưới những hình thức nhất định với chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động rõ ràng theo các quy định của pháp luật. - Phải có tài sản riêng: Một tổ chức được coi là có tài sản riêng khi: + Tổ chức đó có một khối lượng tài sản nhất định phân biệt với tài sản của cơ quan cấp trên hoặc của các tổ chức khác; + Có khối lượng quyền năng nhất định để chi phối khối lượng tài sản đó và phải tự chịu trách nhiệm độc lập bằng chính tài sản đó. - Phải có thẩm quyền kinh tế: Thẩm quyền kinh tế là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ về kinh tế được pháp luật ghi nhận hoặc công nhận. Thẩm quyền kinh tế của một chủ thể luật kinh tế luôn phải tương ứng với chức năng nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động của nó.
Như vậy có thể thấy thẩm quyền kinh tế là giới hạn pháp lý mà trong đó các chủ thể luật kinh tế được hành động hoặc phải hành động hoặc không được phép hành động. Thẩm quyền kinh tế trở thành cơ sở pháp lý để các chủ thể luật kinh tế thực hiện các hành vi pháp lý nhằm tạo ra các quyền và nghĩa vụ cụ thể cho mình. Vai trò của Luật kinh tế đối với nền kinh tế quốc dân 3.