Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về thủ tục thành lập doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục thành lập doanh nghiệp. : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THỦ TỤC THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề lý luận về thủ tục thành lập doanh nghiệp 1.
Khái niệm doanh nghiệp, đăng ký doanh nghiệp và thủ tục thành lập doanh nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là một trong những chủ thể kinh doanh chủ yếu của xã hội. Trên phương diện lý thuyết có khá nhiều cách hiểu về doanh nghiệp ở những khía cạnh khác nhau. Francois Peroux, “doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy.1 Còn theo quan điểm phát triển, “doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải.
Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được.”2 Dưới góc độ pháp lý, khái niệm “doanh nghiệp” ở Việt Nam đã được đề cập lần đầu tiên trong Luật Công ty năm 1990 như sau: “Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Khái niệm này có nội dung bao quát khá rộng vì theo đó, các đơn vị kinh doanh có hoạt động kinh doanh thì sẽ được xem là doanh nghiệp. Đến khi sự ra đời của Luật doanh nghiệp (LDN) năm 1999 và LDN năm 2005 và hiện hành là LDN 1 Hội đồng pháp luật phổ biến giáo dục pháp luật Trung ương (2015), ‘Pháp luật về Doanh nghiệp’, Đặc san Tuyên truyền pháp luật, 3, 3. 2 Hội đồng pháp luật phổ biến giáo dục pháp luật Trung ương (2015), ‘Pháp luật về Doanh nghiệp’, Đặc san Tuyên truyền pháp luật, 3, 3.
7 năm 2014 được ban hành thì khái niệm “doanh nghiệp” đã được đưa ra một cách cụ thể và đầy đủ hơn. Khoản 7 Điều 4 LDN năm 2014 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Như vậy, mặc dù có nhiều định nghĩa về doanh nghiệp ở các góc độ khác nhau nhưng có thể thấy hình thức thể hiện phổ biến nhất của doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế và mục đích chủ yếu nhất của nó là kinh doanh. Khái niệm đăng ký doanh nghiệp Hiện nay, trong giai đoạn phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư thành lập doanh nghiệp đang là xu hướng chung của các tổ chức, cá nhân kinh doanh.
Doanh nghiệp được coi là một công cụ kinh doanh an toàn, hấp dẫn, tiềm năng cho các nhà đầu tư. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” (Điều 33). Quyền tự do kinh doanh là quyền con người và là một trong những quyền cơ bản của công dân. Đồng thời, điều này thể hiện đúng tinh thần mà một nhà nước pháp quyền hướng đến, đó là: Công dân được phép làm những việc mà pháp luật không cấm.
ĐKDN là một trong những nội dung thực hiện quyền tự do kinh doanh đó. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “đăng ký” được hiểu theo hai nội dung: Một là, “đăng ký” là chính thức ghi vào văn bản của cơ quan pháp luật những thông tin cần thiết về sự kiện làm cơ sở phát sinh hoặc chấm dứt những mối quan hệ pháp lý nhất định; Hai là, “đăng ký” là bằng chứng công nhận bắt đầu sự tồn tại hoặc chấm dứt một sự kiện hoặc hiện tượng pháp luật. Vậy đăng ký thành lập doanh nghiệp là sự công khai hóa các nội dung về kinh doanh của chủ thể có nhu cầu thành lập doanh nghiệp và được thừa nhận bởi Nhà nước. Việc ĐKDN chỉ nhằm xác định tư cách pháp lý của doanh nghiệp trước khi doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp thực hiện quyền tự do kinh doanh.
8 Theo phương diện kinh tế, đăng ký doanh nghiệp là một hoạt động của doanh nghiệp, tuy không trực tiếp tạo ra của cải vật chất hay thu về lợi nhuận cho doanh nghiệp nhưng đây là hoạt động tạo tiền đề để doanh nghiệp có thể hoạt động theo khuôn khổ của pháp luật. Theo phương diện quản lý Nhà nước, đăng ký doanh nghiệp được xem là công cụ để quản lý Nhà nước về mặt kinh tế. Thông qua hoạt động đăng ký doanh nghiệp, Nhà nước có được những thông tin cần thiết về doanh nghiệp, từ đó thực hiện các hoạt động quản lý khi doanh nghiệp đi vào hoạt động, trong khâu hậu kiểm, thực hiện việc điều tiết kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện đảm bảo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp ngay từ khâu gia nhập thị trường. Theo phương diện chính trị, đăng ký doanh nghiệp được hiểu là quyền tự do của mỗi người.
Tuy nhiên, quyền tự do này phải trong khuôn khổ của pháp luật. Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có đủ điều kiện đều có thể tiến hành đăng ký doanh nghiệp với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Quyền tự do này bao gồm quyền tự do lựa chọn ngành, nghề kinh doanh mà pháp luật không cấm, tự do lựa chọn hình thức kinh doanh và tự do đăng ký kinh doanh. Đồng thời ĐKDN cũng được phân biệt với đăng ký kinh doanh (ĐKKD).
LDN năm 2005 vẫn sử dụng cụm từ ĐKKD, tuy nhiên kể từ khi Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 04 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp ra đời đã chính thức thay thế cụm từ ĐKKD bằng cụm từ ĐKDN. Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP quy định: “ĐKDN quy định tại Nghị định này bao gồm nội dung về ĐKKD và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp thành lập theo quy định của LDN. ĐKDN bao gồm đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung ĐKDN”. Theo đó, khái niệm ĐKDN rộng hơn khái niệm ĐKKD, ĐKDN bao gồm hai nội dung là ĐKKD và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp thành lập theo LDN năm 2005.
Trước đây, để thành lập doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân cần làm thủ tục ĐKKD tại Cơ quan ĐKKD để được cấp Giấy chứng nhận ĐKKD, sau đó sang cơ quan thuế để đăng ký mã số 9 thuế, cơ quan Thuế cấp Giấy chứng nhận đăng ký thuế. Từ khi Nghị định số 43/2010/NĐ-CP được ban hành và cho đến nay là quy định của LDN năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì các tổ chức, cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp không cần phải tiến hành thủ tục tại hai cơ quan như trên nữa mà chỉ cần làm một thủ tục tại cơ quan đầu mối là Phòng ĐKKD thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư. Cơ quan này có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan Thuế bằng biện pháp nghiệp vụ thực hiện qua Hệ thống thông tin ĐKDN quốc gia, để cấp Giấy chứng nhận ĐKDN, trong đó thống nhất mã số doanh nghiệp đồng thời là mã số thuế. Doanh nghiệp sử dụng mã số doanh nghiệp để kê khai nộp tất cả các loại thuế trên lãnh thổ Việt Nam.
Trường hợp doanh nghiệp di dời trụ sở sang địa bàn tỉnh/thành phố khác để hoạt động thì doanh nghiệp vẫn được sử dụng mã số này.3 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP đã tạo ra một bước ngoặt mới trong tiến trình cải cách thủ tục hành chính công tác ĐKDN, khắc phục được nhược điểm của quá trình thành lập doanh nghiệp ở thời gian trước theo kiểu: “ngày vui ĐKKD thì ngắn, mà những ngày tháng xin con dấu, mã số thuế đến chiều lòng quan chức thì dài”.4 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 09 năm 2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp quy định một cách cụ thể hơn về khái niệm ĐKDN tại khoản 1 Điều 3, cụ thể là :“ĐKDN là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay đổi hoặc dự kiến thay đổi trong thông tin về ĐKDN với cơ quan ĐKKD và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN. ĐKDN bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung ĐKDN và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định của Nghị định này.” Vậy, đăng ký doanh nghiệp (thành lập doanh nghiệp) là việc Nhà nước ghi nhận về mặt pháp lý sự ra đời của một chủ thể kinh doanh (chủ thể kinh doanh ở 3 Trần Thị Nguyệt Lệ (2016), ‘Thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội’, luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội. 4 Trần Huỳnh Thanh Nghị (2011), “Cải cách thủ tục thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam trong chặng đường 10 năm hội nhập kinh tế quốc tế (2000 – 2010)”, Tạp chí Luật học (8), 51. 10 đây bao gồm các cá nhân, tổ chức).
Kể từ thời điểm đăng ký doanh nghiệp chủ thể kinh doanh có đầy đủ các năng lực pháp lý (tư cách chủ thể) để tiến hành hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật. Nhà nước cung cấp những đảm bảo đầy đủ về mặt chính trị - pháp lý để chủ thể kinh doanh có điều kiện thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Đăng ký doanh nghiệp (thành lập doanh nghiệp) là một thủ tục hành chính theo đó chủ thể kinh doanh tiến hành đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và công khai hóa sự ra đời và hoạt động kinh doanh của mình với giới thương nhân và cộng đồng. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có nghĩa vụ xem xét và cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho chủ thể kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật.
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được xem là “giấy khai sinh” của doanh nghiệp, là căn cứ pháp lý xác lập quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dưới sự quản lý của Nhà nước, ghi nhận tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh và sự bảo hộ của Nhà nước đối với chủ thể kinh doanh.