Chương I quy định chế độ chính tri nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; Chương II quy định về chế độ kinh tế; Chương III quy định về văn hóa, giáo dục, khoa học, kỹ thuật; Chương IV quy định về bào vệ tồ quốc xã hội chủ nghĩa; Chương V quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bàn của công dân; Chương VI đến chương X quy định về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước; Chương XI và XII quy định về quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, thủ đò và việc sừa đồi Hiến pháp. 108 Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/12/2001. Một số nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1992 4.1 Chế độ chinh trị (Điều 1 - 1 4 Hiến pháp 1992) Chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp, cách thức, phương tiện mà cơ quan Nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực Nhà nước. Với tư cách là một chế định của ngành Luật Hiến pháp, chế độ chính trị bao gồm tổng thể các quy phạm quy định về những vấn đề có tính chất nguyên tắc chung làm nền tảng cho các chương sau của Hiến pháp như: bản chất Nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với hoạt động cùa Nhà nước và xã hội, nguyên tác tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước.
Nội dung cơ bản cùa chế định này bao gồm: a) về vấn đề quyển dân tộc cơ bàn Hiến pháp 1992 khẳng định nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là một Nhà nước độc lập, có chù quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời. b) Bàn chất, chức năng của Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam - Bàn chất cùa Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (được xác định trong Hiến pháp ỉ 992 - đã được sữa đổi bổ sung năm 2001) là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Nhân dân là chủ thể tối cao cùa quyền lực Nhà nước, quyền lực Nhà nước không nằm trong tay một cá nhân hay một nhóm người nào trong xã hội.
Nhân dân mà nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công 109 nhân vói nông dân và đội ngũ trí thức thực hiện quyền lực Nhà nước dưới nhiều hình thức ưong đó có hình thức cơ bản nhất là thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân, đại diện cho ý chí, nguyện vọng cùa nhân dân. Nhân dân còn sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua kiềm tra, giám sát hoạt động cùa các cơ quan Nhà nước. Như vậy, tính nhân dân và tính quyền lực nhân dân là cái cơ bản xuyên suốt, thể hiện bàn chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản chất đó còn được biểu hiện cụ thể thông qua những đặc trưng cơ bản sau: - Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một Nhà nước dân chủ thực sự rộng rãi Bản chất dân chù của Nhà nước thể hiện một cách toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội.
Trong lĩnh vực kinh tế, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều dạng sở hữu và hình thức tổ chức sàn xuất kinh doanh cho phép mọi đơn vị kinh tế có thể hoạt động theo các cơ chế tự chủ trong sản xuất kinh doanh, hợp tác, cạnh tranh với nhau và đều bình đẳng trước pháp luật. Trong lĩnh vực chính trị, Nhà nước tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc bảo đảm các quyền tự do dân chù cùa công dân được tôn trọng. Bẽn cạnh việc xác lập và thực hiện cơ chế tự do dân chủ đại diện thông qua chế độ bầu cử và bãi miễn đại biều nhân dân vào các cơ quan dân cừ, Nhà nước ta luôn chủ trọng thiết lập và bảo đàm thực hiện đầy đủ chế độ dân chủ trực tiếp, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia thực sự vào công việc quản lý Nhà nước, quàn lý xã hội; tham gia đóng góp ý kiến; kiến nghị, thảo luận một cách dân chủ, bình đẳng vào các vấn đề thuộc đường lối, chù trương, chính sách, các dự thảo văn bàn pháp luật quan trọng làm cho nhân dân thực sự là chủ thê của những chủ trương chính sách đó chứ không phải chi là người phục tùng một chiều. Trong lĩnh vực văn hóa xã hội, Nhà nước thực 110 hiện chủ trương tự do tư tưởng và giải phóng tinh thần, phát huy mọi khả năng của con người; quy định một cách toàn diện các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, học hành, lao động, nghỉ ngơi, tự do tín ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm thân thể, nhà ờ, thư tín.
- Nhà nước Cộng hòa xã hội chù nghĩa Việt Nam thống nhất các dân tộc cùng sinh sống trẽn đất nước Việt Nam Nhà nước thực hiện chính sách bình đảng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm hành động chia rẽ dân tộc, các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy những truyền thống và giá trị văn hóa tốt đẹp của mình. - Nhà nước Cộng hòa xã hội chù nghĩa Việt Nam thể hiện tính xã hội rộng rãi Với mục tiêu xây dựng một xã hội văn minh, nhân đạo, bảo đảm công bằng xã hội, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm một cách đặc biệt và toàn diện tới việc giải quyết các vấn đề xã hội như: xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, đầu tư cho việc phòng chống thiên tai, giải quyết các vấn đề bức xúc như chăm sóc sức khỏe nhân dân, giải quyết việc làm, chống thất nghiệp, giúp đỡ người già cô đơn, trẻ mồ côi, chống tệ nạn xã hội. - Nhà nước thực hiện đường loi đối ngoại hòa bình hợp tác và hữu nghị Với phirơng châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giói”, Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị, xã hội khác nhau, trên cơ sờ tôn trọng độc lập, chù quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ cùa nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, các bên bình đẳng và cùng có lợi, đồng thời tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh cùa nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập, dân chù và tiến bộ xã hội. 111 c) Chức năng cùa Nhà nước Cộng hỏa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bản chất của Nhà nước thể hiện trực tiếp trong nhiệm vụ và chức năng cùa Nhà nước và gắn bó chặt chẽ với nó.
Chức năng của Nhà nước phụ thuộc vào bản chất của Nhà nước và do các cơ quan Nhà nước bộ phận hợp thành cùa bộ máy Nhà nước thực hiện. Ví dụ, chức năng bảo đảm pháp chế và trật tự pháp luật được giao cho rất nhiều cơ quan Nhà nước ở các cấp khác nhau như: Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát, Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp. Mỗi cơ quan Nhà nước có những chức năng đặc thù riêng để thực hiện các chức năng chung đó. Có thể phân loại chức năng của Nhà nước thành các chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.
* Chức năng đối nội: + Chức năng tổ chức và quản lý nền kinh tế, + Chức năng tồ chức và quàn lý nền văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ, + Chức năng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, ttấn áp sự chống đối của các giai cấp thù địch đã bị lật đổ và các âm mưu phản cách mạng. * Chức năng đối ngoại: + Chức năng bảo vệ Tồ quốc xã hội chủ nghĩa, + Chức năng củng cố và mờ rộng quan hệ hữu nghị và họp tác với các nước. Hai nhóm chức năng này có quan hệ mật thiết với nhau. Nếu thực hiện tốt các chức năng đối nội sẽ có thuận lợi cho việc thực hiện tốt chức năng đối ngoại và ngược lại, thực hiện thành công hay thất bại chức năng đối ngoại sẽ ảnh hưởng tốt hoặc cản trở việc thực hiện chức năng đối nội.
Ví dụ, để thực hiện tốt chức năng đàm bào ổn định an ninh —chính trị, bảo vệ các quyền tự do, bảo vệ trật tự an toàn xã hội 112 thi Nhà nước ta phải phối hợp với các quốc gia khác trong đấu tranh phòng chống tội phạm quốc tế. d) Hệ thống chính trị cùa Nhà nước Cộng hòa xã hội chù nghĩa Việt Nam Quá trinh phát triển của xã hội loài người đã dẫn đến sự xuất hiện chế độ tư hữu, xuất hiện sự phân hóa xã hội thành các nhóm, các giai tầng có địa vị xã hội khác nhau, có lợi ích không giống nhau. Điều đó có nghĩa là trong xã hội xuất hiện các lực lượng chính trị xã hội khác nhau. Các thiết chế chính trị xã hội luôn đấu tranh và hợp tác với nhau vì sự tồn tại và sự phát triển của lực lượng chính trị xã hội mà họ đại diện, và vì sự tồn tại và phát triển của cả xã hội nói chung.
Toàn bộ các thiết chế chính trị tạo thành hệ thống chính trị xã hội để nắm giữ và thực hiện quyền lực chính trị xã hội. Trong xã hội có giai cấp thì giai cấp thống trị về kinh tế luôn thiết lập và củng cố cho mình một hệ thống chính trị vững mạnh nhầm bảo vệ lợi ích và củng cố địa vị thống trị cùa giai cấp mình. Như vậy, hệ thống chính trị nước Cộng hòa xã hội chù nghĩa Việt Nam là tổng thể các thiết chế chính trị tồn tại và hoạt động trong mối liên hệ hữu cơ với nhau nhằm lạo ra một ca chế thực hiện quyền lực cùa nhân dân dưới sự lãnh đạo cùa Đảng cộng sản Việt Nam. Theo Hiến pháp 1992, hệ thống chính trị nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm: Đàng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận tồ quốc Việt Nam, Tồng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam.