đặt vấn đề chinh phục cải tạo tự nhiên. Đây là tư sống hoà mục, không “tưởng xuyên suốt các trường phái triết học. 304 3 Lich sir triét hoc Phuong Dong - Nguyén Dang Thuc. Hồ Chí Minh 1991 3.
Triết học Trung quốc ít bàn về vấn đề bản thể. Các nhà triết học Trung quốc bàn nhiều về vấn đề xã hội, con người ở khía cạnh chính trị, đạo đức. Đặc biệt họ nhấn mạnh đến mối quan hệ xã hội- cá nhân và vai trò của kiến trúc thượng tầng xã hội đối với đời sống xã hội cũng như đời sống cá nhân. Họ , bàn nhiều đến vấn đề ổn định xã hội, làm sao để mỗi con người luôn sống hoà _hợp với chế độ xã hội, không xảy ra mãu thuẫn giữa cá nhân với cá nhân và cá nhân với xã hội.
Vấn đề co bản được được các trường phái triết học để cập đến là, quan hệ giữa các phạm trù: hình và thần, vật và tâm, khí và lý: Phái duy tâm cho thần, tâm, lý có trước, quan điểm duy vật cho hình, vật, khí CÓ trước. Tuy nhiên, ở triết học Trung quốc, các trường phái triết học duy vật, duy tâm, biện chứng hay siêu hình ít phân biệt rạch ròi như triết học phương Tây, chúng đan xen hoà trộn vào nhau khó tách rời. 5, Triết học Trung quốc cũng như triết học Ấn độ ít gắn với sự phát triển của khoa học tự nhiên, không hoàn toàn dựa vào những tri thức khoa học tự nhiên để khái quát triết học, mà chủ yếu bằng trực giác, bằng phương pháp chứng luận (Phương tây là phương pháp chứng nghiệm). Phong cách tư duy ngắn gọn, khái quát.
Triết học Trung Quốc phát triển theo kiểu "trầm tích". Các trường phái triết học được định hình về cơ bản ngay thời kỳ mới ra đời, về sau _ không hình thành học thuyết mới. Các thời đại sau, các nhà triết học đứng về phía trường phái này hay trường phái khác để bổ sung phát triển, không đối lập, phủ định như ở phương Tây. Thời cổ đại, triết học phát triển mạnh, sau này trí tuệ kém sâu sắc, các trường phái thường phát triển theo hướng duy tâm biện hộ cho giai cấp thống trị.
14 CHUONG II: NHO GIA Theo Hán tự, Nho gồm chữ nhân và chữ nhu hợp lại, chỉ những người cần thiết cho xã hội, cần cho Nhà nước đùng đến. Khởi đầu Nho là tên gọi các thuật sĩ, sách Hán thư viết: "Người có đạo thuật đều gọi là Nho”. Sau đó Nho là tên gọi những học giả, người thấu hiểu sách thánh hiền, được xã hội cần để dạy bảo người đời đạo lí, góp phần trị nước - còn gọi là Nho sĩ, nhà Nho, bậc sĩ. Khổng Tử và các môn đệ kế thừa và phát triển tri thức đời trước, xây dựng thành hệ thống học thuyết, giáo lí, đạo lí gọi là Nho giáo, thành học phái là Nho gia.
Người Việt Nam thường gọi chữ Hán là chữ Nho. KHỐNG TỬ VÀ KINH ĐIỂN CUA NHO GIA 1. Tổ tiên trước kia là Khổng Phòng Thúc vốn đòng dõi quí tộc nước Tống, con cháu khi sa sút chạy sang Lỗ. Cha là Thúc Lương Ngột, một võ quan nhỏ, có vợ cả sinh 9 con gái, vợ hai sinh một trai là Mạnh Bì tàn tật.
Khoảng gần 70 tuổi mới lấy bà Nhan Chinh Tại sinh Khổng Khâu. Ba tuổi mồ côi cha, lớn lên trong cảnh ban han nhưng Khổng Khâu rất siêng năng, học giỏi và thích chơi trò tế lễ. Ông suốt đời tự học, đi đâu cũng học, thấy cái gì không hiểu hỏi ngay, đi với ai cũng có thể học người đó. Năm 19 tuổi, Khổng Khâu lấy vợ sinh được một trai đặt tên là Lý, tự Bá Ngư.
Ông-làm uỷ lại cho nhà họ Quý coi việc cân đong thóc ở kho, coi việc nuôi bò dê dùng vào việc cúng tế, làm việc chăm chỉ ' nghiêm túc. Từ năm 22 tuổi đã bắt đầu dạy học. Năm 33 tuổi ông đến kinh đô nhà Chu để khảo sát tế lễ ở miếu đường, sau trở về Lỗ, học trò theo học ngày càng đông. + 15 Nước Lỗ có loạn ông qua nước Tề rồi lại trở về Lỗ dạy học và nghiên cứu sách.
: Khoảng 50 tuổi, Khổng Tử được vua Lỗ mời ra làm quan Trung đô tế (cai quản Kinh đô), Đại tư khấu (thượng thư bộ hình), tướng quốc. Trong "thời gian trọng nhậm, nhờ tài cai trị của ông nước Lỗ yên bình, cả bến phương đều noi theo xem là mẫu mực. Lo sợ nước Lỗ hùng mạnh, nước Tế đã mua chuộc làm cho vua Lỗ bỏ bê chính sự, xa rời và nhạt nhẽo với Khổng Tử. Ông rời quê hương cùng đồ đệ đi chu du thiên hạ, truyền bá đạo lí của mình.
Sau hơn mười năm đi từ nước này qua nước khác, nhưng không ở đâu được trọng dụng, không gặp được minh quân thi hành đạo,. nhiều phen rất nguy khốn, ông trở về Lỗ dạy học, san định lại sách vở cho đến cuối đời. | Khổng Tử có rất nhiều học trò, tương truyền khoảng 3000. Số học trò thành đạt có 72 người gọi là hiển, trong đó có 10 hiển triết, 2 á thánh là - Nhan Hồi và Tăng Sâm.
Khi ông mất, học trò quây quần bên mộ chịu tang 3 năm rồi mới khóc lóc từ biệt nhau hết sức đau thương. Hàng trăm người làm nhà ở lại, lập thành làng Khổng. Ông được tôn vinh là "Chí thánh tiên sư, Vạn thế sư biểu". Đánh giá về học thuyết của Khổng Tử, Nhan Hồi nói: "Đạo của thầy trông lên, càng trông càng thấy cao, đục vào, càng đục càng thấy rắn" (Ngưỡng chi di cao, toàn chi di kiên - Tử Hãn 10).
Người đời sau còn nói: - "Đạo của thầy truyền đi khắp bốn phương, truyền đến muôn đời không dứt”. Kinh điển Kinh điển của Nho gia gồm Tứ thư và Ngũ kinh, hình thành qua quá trình lâu đài bởi nhiều tác giả. Kinh điển Nho gia dùng ngày nay được hoàn thiện từ đời Tống, trong đó phải kể đến đóng. góp của Chu Hy (1130 - 1200) vào việc hệ thống và chú giải.
Ta thu Luan ngữ Là sách quan trọng nhất trong kinh điển Nho gia. Luận ngữ có khoảng 12.700 chữ ghi lại lời nói và việc làm của Khổng Tử và học trò, được biên soạn sau Khổng Tử. Nội dung chủ yếu của Luận ngữ là các quan điểm về đạo đức, chính trị, triết học, giáo dục. Bao trùm lên các quan.
điểm ấy là phạm trù Nhân. Những quan điểm này trở thành Khuôn vàng thước ngọc trong việc tu thân và cai trị của giai cấp phong kiến Trung Quốc. Văn chương luận ngữ trong sáng, giản dị, giàu hình tượng, có nhiều _ đoạn tự sự rất sinh động. Là sách buộc kẻ sĩ phải học, tiến thân bằng con ~ đường khoa cử từ luận ngữ.
Tư tưởng triết học của Khổng Tử chủ yếu ở sách này. | Dai hoc Đại học vốn là một thiên trong Lễ Ký do Tăng Sâm tiếp thu, kết hop _ với dian giải lời của Khổng Tử truyền lại. Sách có khoảng 1800 chữ, được trình bày như là tuyên ngôn giáo dục. Đó là Tam Cương: “Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện”.
Bát mục gồm: Cách vật, tri tri, thanh ý, chính tâm, tu thân, té gia, trị quốc, bình thiên hạ. Vấn dé chủ yếu là tu thân giúp đời. Trung Dung - Tương truyền Trung dung do Khổng Cấp, cháu nội của Khổng Tử. ap soạn ra, bàn về đạo trời và đạo người, gọi là đạo Trung Dung.
Khổng Cấp phát triển một thiên của Lễ Ký mà à thành, Trời ban cho con người đức lành 1 tính tốt phải giữ lấy, không Xa rl, là chuẩn mực cho mọi suy nghĩ và hành động. Trung là chính giữa không thiên lệch, cái thế người quân tử 17 phải giữ. Thế chính giữa không thay đổi trong quan hệ với sự không ngừng biến đổi, không thái quá, kbêng bất cập là Dung. Trung Dung trở thành phương pháp luận của người quân tử, nắm cái bất biến để ứng xử với vạn biến.
Mạnh Tử Sách xếp hàng thứ hai sau Luận ngữ, do Mạnh Tử và học trò biên soạn. Cấu trúc gồm 7 thiên nên còn gọi là Bảy thiên Mạnh Tử. Ông phát triển quan điểm của Khổng Tử, bình luận và xây dựng thêm nhiều nội „ dung mới. Nội dung chủ yếu là Vương đạo, Nhân chính, Tính thiện.
trong sách Mạnh Tử trong sáng, mạch lạc, giàu hình tượng, những đoạn nghị luận rõ ra là hùng biện. Học Mạnh Tử không chỉ ở tư tưởng mà cả -văn phong. Ngũ Kinh Kinh tht Là tuyển tập thi ca của người Trung Quốc từ thượng cổ đến Xuân Thu, tương truyền do Khổng Tử chọn lọc, sắp xếp chỉnh lý. Kinh thi gồm | 305 bài thơ, khoảng 3.000 chữ, phản ánh đời sống xã hội, sản xuất va đấu tranh của nhân dân, ước mơ cuộc sống tốt lành của họ.
Khổng Tử nói: “Các trò sao không học Kinh Thi? Thi có thể làm cho ta phấn khởi, mở rộng tầm nhìn, mọi người đoàn kết với nhau, biết oán giận, gần thì biết đạo thờ cha, xa thì biết đạo thờ vua, lại biết nhiều tên chim muông cây cô” (Luận ngữ-Dương Hóa 9), Các bài thơ của Kinh Thi tạo bởi vốn từ phong _ phi mà cô đọng, diễn đạt tình cảm tế nhị, xúc động, là thành tựu lớn trong sự phát triển của ngôn ngữ Hán. 18 weat Kinh Thu Kinh Thư hay Thượng Thư là bộ sử cổ nhất của Trung Quốc kể từ Thượng cổ đến Tây chu, do sử quan ghi lại. Có ý kiến cho rằng Khổng Tử tham gia chỉnh lý. Sau này nhiều tác giả hoàn thiện dần cho văn chương lưu loát, khắc phục từ ngữ cổ xưa khó đọc khó hiểu.
Kinh Thư ghi chép sự kiện lịch sử, văn bản chính trị, quân sự, hành chính của các vua. để cao vai trò thiên tử, để chư hầu phục tùng, đạt tới nền thái bình thịnh trị, làm gương cho các triều đại về sau. Phân ánh tư tưởng triết học sơ khai của người Trung Quốc. Kinh Lễ Kinh Lễ khá phức tạp về nội dung cũng như bố cục, đã có trước thời Xuân Thu.
Khổng Tử và môn đệ góp phần bổ sung, bình luận. Kinh Lễ gồm Chu Lễ, Nghi Lễ và Lễ Ký. Nội dung Kinh Lễ nêu lên và vận dụng quan điểm về vũ trụ vào cuộc sống để quy định mọi cử chỉ hành vi, bổn phận của con người từ khi sinh ra cho đến chết, phan ánh tổ chức xã hội Trung Quốc, quan hệ giữa người và người. Khổng Tử rất tâm đắc Lễ bởi nó giúp con người nuôi dưỡng tính tốt, ngăn chặn tính xấu, đem lại trật tự ổn định cho gia đình và xã hội.