Chương 1 : Lai nguyên của các âm mũi M, N, NH, NG Chương 2 : Lai nguyén của các âm tác B, Ð, CH, K Chương 3 : Lai nguyén của các âm xat V, D, GI, G Chương 4 - Lai nguyén cia T, TH, X Chương ð : Lai nguyén của PH, KH, H | Chuong 6 : Lai nguyén cua TR, 5, R, L CHUONG I LAI NGUYEN CUA CAC AM MUI M, N, NH, NG Trong tiếng Việt hiện có bốn âm mũi có khả năng đứng Ở. đầu âm tiết : M,N, NH, NG. Sau đây là lai nguyên của chúng. A - LAI NGUYÊN CỦA M Âm M có ở tất cả mọi vùng, và phát âm cơ bản thống nhất cả trong toàn quốc.
Đi ngược lên đến thế kỉ 10, ta cũng thấy như vậy. Chứng cớ là : 18° * Õ từ điển Việt Bồ La in giữa thế kỉ 17 (in năm 1651) đã có chữ M, và cách đọc của nó được giải thích đúng như hiện nay ; | * Ở cuốn Annam dịch ngữ soạn khoảng thé ki 15, 16 người đời Minh đã dùng chữ Hán có m để phiên âm 45 từ Việt có M (như mưa, muối, mặn v.)™ * Ở chữ Nôm, để ghi một tiếng Nôm cớ M (bất kì đó là M - như sau này sẽ thấy - thuộc nguồn gốc nào), hầu như bao giờ cũng dùng một chữ Hán có âm Hán Việt là M, ví dụ để ghi mau, mat ; mốt , may’ da dùng những chữ Hán mão ,mat , mai. Khái quát các trường hợp móu (mão), mắt (mạt), mất (mạt), may (mai). chúng ta nói là chúng ta có mô hình, M(M).
Trong 318 chữ Nôm cớ M ở tự điển chữ Nôm Nguyễn Quang XỈ, Vũ Văn Kính, 308 chữ đặt theo mô hình M (M)@) | | * Trong danh sách những từ có M ở tiếng Việt hiện đại, một khối lượng đáng kể là từ Hán Việt. Truy tìm nguồn gốc của chúng ở tiếng Hán đời Đường chúng ta thấy xuất phát điểm của chúng ở Trung Quốc cũng là m : 96% thuộc thanh mẫu Minh ‘*m. Điều này càng hỗ trợ cho mô hình M(M) ở chữ Nôm nêu ở trên. Như vậy là gần 1000 năm nay M không thay đổi và các từ có M (trừ một vài lệ ngoại không đáng kể do ML chuyển sang) tạo thành một khối thống nhất, suốt 10 thế kỉ luôn luôn có âm đầu như nhau.
Nhưng nếu đem kho từ Việt đó đối chiếu với tiếng Mường thì ta thấy phải chia thành hai trường hợp : - trường hợp Việt M - Mường cũng có m ; - và trường hợp Việt M - nhưng Mường có b, v, p, ph, ve) (1) Số liệu thống kê trong Annam dịch ngữ, chúng tôi rút từ bản luận văn tốt nghiệp của chị Nguyễn Thị Phương Trang "Cách phiên âm tiếng Việt qua cuốn Hoa Di dịch ngữ", Hà Nội 1992. (2 Số liệu thống kê tự điển chữ Nôm là của chị Nguyễn Thị Lâm, Viện Hán Nôm. (3) V của Nguyễn Văn Tài tức là B quốc tế (âm xát môi- môi) 19 Trong bảng điều tra 30 thổ ngữ Mường của Nguyễn Văn Tai“) chung ta có khoảng 40 từ thuộc trường hợp đầu và gần 20 từ thuộc trường hợp sau. Ví dụ về tương ứng M Việt - m Mường: Xin xem bảng Mường 1 cuối chuong), : Trường hợp có sự tương ứng M Việt - m Mường tình hình như vậy là rất rõ ràng : số lượng từ đủ nhiều, quan hệ tương ứng hết sức đều đặn.
Trường hợp M Việt ứng với b, v, p, ph, V Mường thì tình hình có phần phức tạp hơn : xim xem bảng Mường số 2 Qua bâng 2 chúng ta thấy chỉ ở từ măng, muối, mốt, mỏ, mụun, mửa là hoàn toàn khác Việt ; số còn lại thì hoặc ít, hoặc nhiều đều đã tiếp thu M của Việt hay tiếp thu quá trình diễn biến thành M như ởở Việt) -Ở đây b là âm điển hình của Mường. Nhưng ngoài b ta còn thấy p, ph, V, v. Có thể chia thành 8 kiểu tương ứng, nếu không kể đến hiện tượng Việt hóa thành m như vừa nói ở trên. 1) M Viet - b Mường : ở các thổ ngữ số 1, 5, 6, 7, 10, 24, 25, 26, 27, 28, 29 (tổng cộng mười một thổ ngữ) (1) Ngũ âm tiếng Mưỡng qua các phương ngôn - luận án phó tiến sĩ, 1983 (2) Trong bảng có dẫn hai từ Cổ Hán Việt Md, Mai (Hán Việt mộ, ma) và một tỪ CỔ : mắng, với nghĩa là nghe được, nghe thấy.
Xưa ta có hệ thống “trông, thấy, nghe, mắng*® Từ mắng này có ở tù điển 1651, có ở văn bản Quốc ngữ cổ (tác phẩm Ph. Bỉnh) và có ở tử điển cuối thế kỉ 19. Nhưng khi phiên Nôm Hoa Tiên, Truyện Kiểu thì nó không còn thông dụng nữa, nên có sự phiên nhầm mắng tin, mắng tiếng thành mảng tín, mảng tiếng. Cũng vậy, tượng mắng (do dịch hai chữ Hán cái văn) bị phiên nhầm thành tượng mảng.
Ở Mường hiện có 8 thổ ngũ đang còn từ tương ứng với từ mống này. (3) Trước nay giới nghiên cứu thường cho hiện tượng + B > M là một sự cách 'tân của tiếng Việt, nên những trường hợp thấy ở Mường cố m giới nghiên cứu bắt buộc phải giải thích là do "tiếp thu" của Việt. Nhưng xét từ vựng, ta thấy đây đều là những từ thuộc lớp cơ bản cả, nên khó có thể nghĩ rằng đã có hiện tượng vay từ. Rất có thể quá trình + B > M là một quá trình xẩy ra ở cuối giai đoạn Việt- Múờng chung, nó bắt đầu ở khu vực Việt trước rồi lan truyền dẩn sang vùng Mường.
Có diéu 6 khu vực Việt thì quá trình đã hoàn thành, còn G MuGng thi xu thé đó không tiếp tục đến cùng. 20 2) M Việt - b, V Mường : ở các thổ ngữ số 4, 12, 15, 16, 17, 18, 20, 22, 23 (tổng cộng chín thổ ngữ) 3) M Việt - b, p Mường : ở bốn thổ ngữ số 2, 3, 8, 9 4) M Việt - b, ph, p Mường : ở thổ ngữ số l1. B) M Việt - b, v Mường : ở thổ ngữ số 13 6) M Việt - V Mường : ở thổ ngữ số 14 7) M Việt - v Mường : ở thổ ngữ số 19 8) M Việt - Vị v Mường : ở thổ ngữ số 21 Âm b có mặt ở 26 thổ ngữ : đó là điêu dễ hiểu. Nhưng tại sao cũng có đến 18 thổ ngữ chấp nhận những âm không điển hình như V, v, p, ph vừa nêu ở trên ? Theo ý chúng tôi, tình hình ở mười thổ ngữ số 8, 11, 12, 14, 15, 16, 17, 19, 21, 23 là điều hoàn toàn có thể giải thích được.
Mười thổ ngữ này - như ở sau này sẽ thấy - đều là những thổ ngữ có p bị Việt hóa thành b. Đã có hiện tượng p (ứng với B, V Việt) chuyển thành b như vậy thì dễ hiểu vì sao b (ứng với M Việt) lại chuyển thành V, p hoặc v, ph : đây là giải pháp tốt nhất để tránh hiện tượng đồng âm hóa, bảo toàn được những sự đối lập hữu ích. Tình hình ở năm thổ ngữ số 4, 13, 18, 20, 22 chắc là sinh ra do ảnh hưởng của sự lan truyền. Còn các thổ ngữ 2, 3, 9 thì có p cũng chỉ ở một đôi từ lẻ tẻ.
Trên đây chúng ta đã thấy được sự phức tạp đẻ ra do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của tiếng Việt. Dưới đây là những sự phức tạp đề ra do nguyên nhân khác: Ứng với 3 từ mí, 2, múc, mút ta thấy ở các thổ ngữ Mường có cứ liệu như sau : 1 213114 5 | 6 7 | 8 9 | 10) 11) 12] 13 | 14) 15 Mi | Pel2| Petz | Pel2 | pea” | pea2|pea2 | Petz | belz | pet2 | Pel? [beat | bet |. | bet? | bai Mae | buk? | buk> | buk? {Vak> | bak? | buk? | tae? | pub? | buk? | isk? |. | dôkP |v/dôg? Mút duc” | duc’ .„ | mut buc® buc bue? tục buc buc? buc? buc? buc3 ve buc 16 | 17 |18 |19120|21|122|123|124|125|26|127128 129 Mi " oo vẽ on pen” we pen bel bic? mi? bin® mit bia? mi", Múc + | «| tốk? | dak? | tok? | dok3 | buk? | phak?| buk® | buk> bu) buk? | buk> | bak: Mut buc? | buc3 puc | mut put? mut”.| puc” | buc put? but 7 pur mut? puc™ | mut 21 Ở mí tình hình ở sáu thổ ngữ từ 24 đến 29 không ăn khớp với tình hình ở các thổ ngữ từ l đến 23: hai bên khác nhau về thanh điệu, về :nguyên âm và vệ cả phụ âm dau.
Co thé nghỉ đến *p và thanh ứng với rgang từ l đến 23 ; nghĩ đến * § và thanh ứng với sắc từ 24 đến 29. Hai biến thể đó chắc có liên quan về mặt lịch sử, cũng như mi 6 Viét vita liên quan với mi, vừa liên quan với biến thể mế ở từ điển 1651. GO từ múc có sự xuất hiện của t, d ở 8 thổ ngữ số 7, 10, 14, 15, 18, 19, 20, 21 dang lấy làm lạ. Ngoài ra, ở 8 thổ ngữ đó và.
hai thổ ngữ 4, 23 lại có nguyên âm ô chứ không phải u. biét bén canh múc có những từ vừa gần nghĩa vừa gần. ãm như xúc, bốc, : uốc, vuc. Rất có thể các thổ ngữ Mường trên đây không ứng với mmúc mà ứng với một biến thể gần.
nghĩa, gần âm kiểu như vậy. Theo ý chúng tôi cần suy nghĩ đến trường hợp ProtôMôn là *tuok, khẩu ngữ Môn là tuk và ở tiếng Nyah kur là took”. Ở từ mứt các, thổ ngữ sốZ1 2, 8 làm chúng ta nghỉ đến từ nút hơn là từ múi,vì nút dễ giải thích t, d ở ba thổ ngữ đó, mà: đại có nghĩa cũng như ú¿. Theo định nghĩa ở Việt Nam từ điển (Hội.
khai trí tiến đức khởi thảo) chúng ta có : : hút ở ngoài môi,: mút. : chim mdi lai ma hut lay Ngoài ra sự tương ứng ở một số thổ ngữ khác (ví dụ thổ ngữ số 18, 20, 22, 24, 26, 28) cũng bắt buộc ta phải nghỉ đến một biến thể khác gần nghĩa gần âm với mú¿ nhưng xưa vốn có Tp. Đi vào chỉ tiết như vậy là có những trường hợp không đơn giản, cần phải tiếp tục nghiên cứu. Nhưng dầu sao, nhin chung thì có điều vẫn khẳng.
định được : ở Việt chỉ có một âm là M, nhưng ở Mường thì cớ hai : một:bên là những từ có m như Việt, và một bên là những từ có b hoặc V, v, p, ph.