CHƯƠNG 1 MÁY ẢNH CĂN BẢN Mục tiêu: - Trình bày được lịch sử nhiếp ảnh. - Phân loại được máy ảnh. - Trình bày được các thuật ngữ thường dùng. Nội dung chương: I.
Lịch sử nhiếp ảnh Thập niên 30 của thế kỷ 19, Louis Daguerre đã phát minh thành công kỹ thuật chụp ảnh. Thời thanh niên ông là một nhà nghệ thuật. Đến năm hơn 30 tuổi, ông thiết kế ra một loại kính đặc biệt, dùng hiệu quả đặc thù để làm hiện lên toàn cảnh của một bức tranh. Trong khi ông theo đuổi công việc làm đó thì nảy sinh ra ý tưởng muốn chế tạo một chiếc máy không cần bút vẽ, không cần sơn dầu mà có thể tự động hiện ra mọi cảnh tượng tức là sáng chế ra một máy chụp ảnh.
Năm 1827, ông gặp Nielfs. Có lẽ lúc đó Nielfs cũng đang cố gắng thiết kế ra một chiếc máy ảnh. Hai năm sau họ trở thành đôi bạn cùng cộng tác với nhau. Năm 1833, Nielfs đột ngột qua đời, Daguerre kiên trì tiếp tục công trình nghiên cứu của mình.
Đến năm 1837, ông mới thành công trong việc phát triển một hệ thống chụp ảnh có giá trị thực dụng. Thiết bị đó được goị là máy chụp ảnh Daguerre. Năm 1839, Daguerre công bố trước công chúng chiếc máy chụp ảnh đầu tiên của mình nhưng không xin được bằng sáng chế độc quyền. Đáp lại, chính phủ Pháp đã cấp tiền trợ cấp hàng năm cho con của Daguerre và Nielfs.
Sự công bố về phát minh của Daguerre đã gây dư luận xôn xao trong công chúng. Daguerre đã trở thành nhân vật anh hùng và đón nhận nhiều danh dự. Cùng lúc đó, chiếc máy ảnh của ông thiết kế đã nhanh chóng được sử dung phổ biến rộng rãi. Sau đó không lâu, Daguerre nghỉ hưu.
Rất ít có phát minh nào được sử dụng rộng rãi nhiều mặt như máy ảnh. Thực tế, nó đã được sử dụng rộng rãi mọi lĩnh vực trong nghiên cứu khoa học. Đối với một số người thì chụp ảnh là một hình thức nghệ thuật nghiêm túc, còn đối với hàng trăm triệu người khác, nó là một trò chơi vui vẻ được nhiều người ưa thích. Một bức 12 ảnh chụp sẽ mang đến cho chúng ta tin tức về giáo dục thời sự và quảng cáo.
Một bức ảnh chụp làm cho chúng ta hồi ức lại quá khứ một cách sinh động. Nó là một vật thường thấy nhất trong các đồ kỷ niệm. Tất nhiên là kỹ thuật quay phim trong điện ảnh cũng là một bước phát triển quan trọng của kỹ thuật chụp ảnh, ngoài việc phục vụ giải trí, nó còn được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực cũng giống như chụp ảnh. Đại lộ Temple, bức ảnh nổi tiếng của Daguerre chụp ngày 4 tháng 5 năm 1838 tại Paris.
Bức ảnh chụp một con phố trong khoảng thời gian 10 phút, do hạn chế về kỹ thuật ở thời kỳ đó. Tất cả các xe cộ chuyển động đều không hiện trong tấm hình. Riêng ở góc trái, một người đàn ông đứng yên để đánh giày và đây là tấm hình đầu tiên có ghi lại hình ảnh con người. Giống như hầu hết các bức hình chụp theo phương pháp Daguerre, hình ảnh trong tấm ảnh này bị lật ngược như khi nhìn qua một tấm gương.
Không có một phát minh nào là công lao của một người duy nhất. Trước Daguerre đã có nhiều việc cần thiết được chuẩn bị cho sự phát triển của bản thân ông. Hộp đen (một dụng cụ tương tự như máy ảnh có một lỗ thủng nhỏ nhưng không có phim) đã được phát minh trước Daguerre 800 năm. Thế kỷ 16, Gerolamo Cardano đã tiến một bước dài trong việc làm thế nào lắp được thấu kính vào lỗ thủng của hộp 13 đen, mở màn cho việc phát minh ra máy ảnh hiện đại được mọi người yêu thích.
Do hình ảnh của nó cơ bản không thể giữ lại được nên chưa thể xem là một máy chụp ảnh. Một sự phát hiện có tính chất chuẩn bị quan trọng hơn nữa do Theodore Whilliam Schultz hoàn thành vào năm 1727. ông phát hiện nitoras bạc là chất có cảm ứng nhạy đối với ánh sáng. Mặc dù ông đã dùng phát minh đó để tạo ra được một số hình ảnh mà tạm thời có thể bảo lưu được nhưng Schultz không đi sâu nghiên cứu thêm về phát hiện đó.
Kỹ thuật nhiếp ảnh của Daguerre và Talbot thì kỹ thuật nhiếp ảnh đã có những bước cải tiến lớn lao như việc xử lý âm bản theo dạng ướt, xử lý âm bản theo dạng khô rồi tiến tới có những cuốn phim như hiện nay như phim màu, điện ảnh, nhiếp ảnh bằng đèn chớp và máy phô-tô-cóp-pi. Mặc dù có rất nhiều người tham gia vào việc phát triển kỹ thuật nhiếp ảnh nhưng dư luận nói chung vẫn đánh giá sự cống hiến của Daguerre là quan trọng nhất. Trước ông, không có một hệ thống nhiếp ảnh nào được gọi là thực dụng trong khi thiết kế của ông đứng về mặt kỹ thuật là hoàn toàn thực dụng và nhanh chóng được sử dụng rộng rãi. Hơn nữa, sự phát minh mang tính đại chúng hoá của ông đã có tác dụng xúc tiến to lớn đối với sự phát triển của ngành nhiếp ảnh.
Daguerre mất ngày 10 tháng 7 năm 1851 tại Bry-sur-Marre cách thủ đô Paris 12 km. Khu mộ ông tại đây có một tượng đài trang trọng để tưởng nhớ tới người con vinh quang này của nước Pháp. Một trong những ảnh nguyên mẫu Daguerre (daguerréotype) đã làm xáo trộn lịch sử ngành nhiếp ảnh Những chuyên gia Pháp và Mỹ tranh luận về việc bức chân dung chụp đầu tiên của nhân loại do Louis Daguerre ký năm 1837. Bức chân dung nhỏ xíu chỉ nằm gọn trong lòng bàn tay nhưng hiệu quả của nó như một trái bom đã làm xáo trộn thế giới vi mô của những chuyên gia.
Ðó là một khuôn mặt trắng bệch của một người đàn ông, tóc bù xù, mắt mở to, khắc trên một tấm chì phủ bạc mà khi muốn coi, phải nghiêng một cách kiên nhẫn mới thấy những nét của ông ta nổi lên, cũng như trong cái gương vậy. 14 Sau lưng tấm ảnh có ghi năm 1837 bằng thủ bút, luôn luôn kèm theo tên tác giả là Louis Daguerre. Louis Daguerre sáng tác ngành máy ảnh chung với Niépce, nhưng đã đăng riêng tên mình vào phương thức sáng chế và trình ra cho công chúng năm 1839. Bức ảnh này hiện nằm trong tay Marc Pagneux, người buôn ảnh nổi tiếng và là chủ nhân bức ảnh nguyên mẫu đặc biệt này: "Nó không phải chỉ là một bức ảnh mà là một vật thuộc lịch sử khoa họ" Bức ảnh đã được in ra -tức là đã tiết lộ- trong báo Le Monde và bài Nghiên cứu phim ảnh (Études photographiques) do nhà sử học nghệ thuật André Gunthert và kỹ sư Jacques Roquencourt viết.
Những phản ứng đầu tiên không phải từ Pháp, mà từ Hoa Kỳ, một nước sản sinh nhiều nhà nghiên cứu về phương thức Daguerre. Nhiều người không tin, nghi ngờ khi chưa thấy ảnh, có người thì chào đón phát minh. Chữ ký, ngày chụp, tính chất chung đã biện hộ cho sự chính xác của vật, nhưng cũng có những người chờ phân tích tấm bảng đồng mới tin được. Sự khám phá này cụ thể hóa cho lời tuyên bố của chính Daguerre hồi tháng 2 năm 1838: nước Pháp (Niépce và Daguerre) và nước anh (Talbot) bàn cãi về phát minh ngành nhiếp ảnh.
Vị trí nhiếp ảnh trong đời sống Nghệ thuật nhiếp ảnh đóng vai trò khá quan trọng trong nền văn hóa, góp phần phát triển khả năng thẩm mỹ xã hội. Đây là một loại hình nghệ thuật độc nhất vô nhị, kết hợp được tính tài liệu với tính nghệ thuật, là hai tính chất hoàn toàn đối lập nhau trong văn học nghệ thuật nói chung. Trong quá trình tồn tại và phát triển, nghệ thuật nhiếp ảnh đã trở thành một trong những hình thức hoạt động mang tính quần chúng rộng rãi nhất. Đây cũng là một trong những đặc điểm nổi trội của nghệ thuật nhiếp ảnh, mà không một loại hình nghệ thuật nào có được.
Cả hai đặc điểm này đã mang lại cho nghệ thuật nhiếp ảnh những kết quả cực kỳ quan trọng và rất phong phú, chứa đựng đầy đủ tính chất của nền văn hóa, tính chất tâm lý xã hội, tính tư tưởng và đặc biệt là tính thẩm mỹ cao. 15 Thật vậy, hình tượng trong nghệ thuật nhiếp ảnh chứa đựng tài liệu bắt nguồn từ cuộc sống thực tế, thông qua kỹ thuật nhiếp ảnh, nhà nghệ sỹ ghi được, đã không ngừng nâng cao vai trò thông tin chính xác về mọi hoạt động của con người trong xã hội, được công chúng thừa nhận và tin tưởng, mà trước đây khi nhiếp ảnh chưa ra đời khả năng ghi nhận tin tức rất khó khăn và thiếu độ chính xác, nếu không muốn nói sai lệch rất lớn, bởi vì mọi phương pháp “diễn đạt bằng tay” đều mất độ chính xác do nhận thức chủ quan của cá nhân nhà nghệ sỹ. Nhiếp ảnh chỉ có thể ghi được những gì nhìn thấy, sờ thấy, những gì tồn tại khách quan. Nhiếp ảnh không có khả năng tái hiện những thứ phi vật chất.
Bức ảnh trước hết là một sản phẩm công nghiệp ghi lại sự hiện diện của vật thể, một hiện tượng, một sự kiện, một hoạt động…đúng với nguyền hình nguyền trạng của nó ở thời điểm ghi hình với độ chính xác tuyệt đối về tài liệu. Bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh những ngày sống và làm việc tại chiến khu Việt Bắc do họa sỹ nổi tiếng Tô Ngọc Vân vẽ trực tiếp rất sinh động, hấp dẫn, bởi bức vẽ toát lền tâm hồn cao đẹp, chí lớn của Bác. Nhưng dù cuốn hút đến mức nào đi nữa, bức chân dung không thể mang lại cho người xem ấn tượng chính xác về Bác như khi họ được xem bức chân dung của các cố nghệ sỹ nhiếp ảnh Đinh Đăng Định, Vũ Năng An, Lâm Hồng Long chụp về Bác (ở đây không so sánh giá trị nghệ thuật giữa ảnh và hội họa, mà chỉ đề cập đến tính hiện thực của hai thể loại đó). Điều muốn nói là độ chính xác của ảnh là tuyệt đối, không một ai có thể nghi ngờ.
Nhưng đối với ảnh nghệ thuật là sự kết hợp giữa cái khách quan (hiện thực) với cái chủ quan (tư duy nhận thức của tác giả), tức là giữa cái nhận thức được và cái đã đánh giá để hình thành nền tác phẩm. Còn trong ảnh tư liệu (ảnh báo chí) và cả ảnh khoa học điều cốt yếu là làm sao cho cái khách quan (hiện thực) không bị cái chủ quan chi phối. Ngược lại hội họa, điều khắc, kiến trúc… cái khách quan bị cái chủ quan của nhà nghệ sỹ chi phối hoàn toàn.