BQ GIAO THONG VAN TAI - TRUONG CAO BANG NGHE GIAO THONG VAN TAI TW I GIAO TRINH KY NANG GIAO TIEP (Lưu hành nội bộ) Bài 1. Khái quát chung về giao tiếp 1.1 Khái niệm giao tiếp 1.1 Định nghĩa giao tiếp Giao tiếp xã hội là một hiện t-ợng xã hội, là một mặt của sự tồn tại của cuộc sống xã hội và là cơ sở, nên tảng để các hoạt động xã hội, các mối quan hệ của con ng-ời diễn ra trên đó. Giao tiếp là một dạng thức cơ bản của hành vì con ng-ời.Giao tiếp có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con ng-di.Higu qua cia giao tiếp ảnh h- ởng lớn đến hiệu quả hoạt động. Do vậy giao tiếp đ-ợc nhiều ngành khoa học để cập và nghiên cứu nh- tâm lý học, điều khiển học, ngôn ngữ học, văn hoá học.Trong đó tâm lý học, đặc biệt là tâm lý học xã hội là ngành khoa học nghiên cứu.
sâu nhất, cơ bản nhất về giao tiếp. Giao tiếp là đối t- gng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học cho nên có rất nhiều định nghĩa về giao tiếp và mỗi định nghĩa nhấn mạnh những mặt khác nhau của giao tiếp Nhà tâm lý học người Mỹ Cooley định nghĩa: Giao tiếp như là một cơ chế cho các mối liên hệ của con người tồn tại và phát 'Nhà tâm lý học Xô viết A. Leonchiev đưa ra định nghĩa: Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ bảo đảm sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các mối quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phương tiện đặc thù mà trước hết là ngôn ngữ. Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện trong cuốn từ điển tâm lý học định nghĩa: Giao tiếp là sự trao đối giữa người và người thông qua ngôn ngữ nói, viếtcử chỉ.
Ngô Công Hoàn trong cuốn Giao điép sư phạm định nghĩa: Giao tié lä hình thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa con người với con người mà qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý và được biểu hiện ở các trao đổi thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại. Mỗi định nghĩa trên đều d-a theo một quan điểm và quan tâm đến các khía cạnh khác nhau của giao tiếp xã hội. Tuy nhiên các định nghĩa này đều nêu ra những. nét chung và cơ bản sau của giao tiếp: ~ Nối tới giao tiếp là nói tới sự tiếp xúc, quan hệ tương tác giữa ng- ời và ng-ời bị quy định bởi xã hội.
~ N6i tới giao tiếp là nói tới sự trao đổi chia sẻ thông tin, tư tưởng, tỉnh cảm. 'bằng các phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ. 'Từ việc phân tích các định nghĩa trên có thể khái quát lại như sau: Giao tiếp là quá trình tiếp xúc trao đổi thông tin, suy nghĩ, cảm xúc. giữa người với người thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ.
Giao tiếp là một quá trình phức tạp và nhiều mặt. Vì vậy có thể nghiên cứu giao. tiếp nh- là quá trình tác động qua lại của các cá thể, cũng nh- quá trình thông tin, thái độ của ng- ời đối với ng- ời, quá trình ảnh h- ởng lẫn nhau của họ và nh- là quá trình gay cảm xúc và hiểu biết lẫn nhau. Các đặc điểm của giao tiếp 1.
Mang tỉnh nhận thức Cá nhân ý thức được mục đích giao tiếp, nhiệm vụ, nội dung của tiến trình giao tiếp, phương tiện giao tiếp; ngoài ra còn có thể hiểu đặc trưng được của giao tiếp là khả năng nhận thức và hiểu biết lẫn nhau của các chủ thể giao tiếp, nhờ đó tâm lý, ý thức con người không ngừng được phát triển. Nếu không giao tiếp với những người xung quanh, đứa trẻ không nhận thức được. Trao đổi thông tin Dù với bất kì mục đích nào, trong quá trình giao tiếp cũng xảy ra sự trao đổi thông tín, tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, nhân sinh quan. Nhờ đặc trưng này mà mỗi cá nhân tự hoàn thiện mình theo những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, của nghề nghiệp, của vị trí xã hội mà họ chiếm giữ.
Cũng nhờ đặc trưng này, những phẩm chất tâm lý, hành vi ứng xử, thái độ biểu hiện của con người được nảy sinh và phát triển theo các mẫu hình “nhân cách” mà mỗi cá nhân mong muốn trở thành. Giao tiếp là một quan hệ xã hội, mang tính chất xã hội. Quan hệ xã hội chỉ được thực hiện thông qua giao tiếp người - người. Con người vừa là thành viên tích cực của các mối quan hệ xã hội vừa hoạt động tích cực cho sự tồn tại và phát triển của chính các quan hệ xã hội đó.
Giao tiếp giữa các cá nhân mang tính chất lịch sử phát triển xã hội. Giao tiếp bao giờ cũng được cá nhân thực hiện với nội dung cụ thể, trong khung cảnh không gian và thời gian nhất định. Sự kế thừa chọn lọc Giao tiếp, bản thân nó chứa đựng sự kế thừa, sự chọn lọc, tiếp tục sáng tạo những giá trị tỉnh thần, vật chất thông qua các phương tiện giao tiếp nhằm lưu gìn giữ những dấu ấn về tư tưởng, tình cảm, vốn sống kinh nghiệm của con người. Giao tiếp được phát triển liên tục không ngừng đối với cá nhân, nhóm xã hội, dân tộc, cộng đồng tạo thành nền văn hoá, văn minh của các thời đại.
Tỉnh chủ thể trong quá trình giao tiếp Quá trình giao tiếp được thực hiện bởi các cá nhân cụ thể: một người hoặc nhiều người. Các cá nhân trong giao tiếp là các cặp chủ thể - đối tượng luôn đổi chỗ cho nhau, cùng chịu sự chỉ phối và tác động lẫn nhau tạo thành “các chủ thể giao tiếp”. Mức độ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các chủ thể giao tiếp và hiệu quả giao tiếp phụ thuộc rất nhiều vào các đặc điểm cá nhân của chủ thể như vị trí xã hội, vai trò xã hội, tính cách, uy tín, giới tính, ác.cũng như các mỗi quan hệ và tương quan giữa họ. Sự lan truyền, lây lan các cảm xúc, tâm trạng.
Sự biểu cảm thể hiện đầu tiên bằng nét mặt có ý nghĩa tiến hoá sinh học cũng như ý nghĩa tâm lý - xã hội, nó phản ánh khả năng đồng cảm, ảnh hưởng lẫn nhau của con người. Sự chuyển toả các trạng thái cảm xúc này hay khác không thể nằm ngoài khuôn khổ của giao tiếp xã hội. Sự khác biệt giữa giao tiếp cá nhân với giao tiếp chuyên nghiệp Giao tiếp cá nhân hầu như là sự giao tiếp mang tính tự phát. Đó chỉ là sự trao đổi thông tin giữa các chủ thể tham gia giao tiếp.
Sự mã hóa thông tỉn, sự giải mã cũng như việc đưa lại các thông tin phản hồi. Sự khác biệt giữa giao tiếp cá nhân với giao tiếp chuyên nghiệp thể hiện ở sự viết vận dụng một cách hiệu quả và sâu sắc sự ảnh hưởng của ngôn ngữ, sự hiểu biết về phong tục tập quán của đối phương trong quá trình giao tiếp. Nói đến nền văn hoá của một dân tộc, một quốc gia là nói đến phong tục, tộp quán, lễ nghỉ mang tính truyền thống phản ánh bản sắc văn hoá của dân tộc, quốc gia đó. Những phong tục, tập quán, truyền thống được thể hiện rất rõ nét trong hành vi, cử chỉ, cách sử dụng ngôn ngữ.trong quá trình giao tiếp.
Sự khác biệt về ngôn ngữ, về văn hoá giữa các cá nhân tham gia vào quá trình giao tiếp phần nào sẽ hạn chế hiệu quả của quá trình giao tiếp đó (do quá trình mã hoá. và giải mã thông tỉn). Sự khác biệt về phong tục tập quán, truyền thống cũng sẽ có những khó khăn trong giao tiếp như dễ hiểu lầm, gây phật ý vì động chạm đến vấn dé tế nhị, linh thiêng của mỗi người, mỗi dân tộc. Ví dụ hỏi tuổi, hỏi đời tư khi mới quen biết là tối ky đối với người Châu Âu.
Sự hiểu biết về các phong tục, tập quán, lễ nghỉ sẽ giúp cho sự thích nghỉ và hoà nhập giữa các bên tham gia vào quá trình giao tiếp. Chúng ta thường nói “nhập gia tuỳ tục”, có nghĩa là khi giao tiếp với người nào đó cần chú ý đến phong tục, truyền thống lễ nghỉ của họ. Hệ thống tín hiệu qua cir chi, hành vi cũng có những khác biệt thuộc về nền văn hoá. Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ với những ý nghĩa khác nhau.
Vi dụ: cử chỉ giơ ngón tay cái lên ở Mỹ, Anh, Úc biểu thị “tắt cả đâu. vào đấy”, ở Hy Lạp cử chỉ này có ý nghĩa thô tục. Sự hiểu biết ý nghĩa của những hành vi, cử chỉ.trong giao tiếp giữa các cá nhân thuộc các dân tộc, quốc gia khác nhau có tác dụng thúc đẩy mối quan hệ thân 5 thiện trong giao tiếp và tránh được những sự hiểu lầm, bất nhã thiếu tế nhị. Ví dụ người Anh rất ky cavát kẻ sọc do đó không nên tặng loại cavát này.
‘Tom lại , giao tiếp của con người chịu ảnh hưởng lớn của nền văn hoá của. mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Do vậy trong giao tiếp ứng xử với những người có sự khác biệt về nền văn hoá cần tìm hiểu những nét văn hoá, truyền thống của họ để có cách giao tiếp ứng xử phù hợp, thể hiện sự tôn trọng họ, tôn trọng nền văn hoá của họ. “Trong hoạt động công tác xã hội, nhân viên xã hội thường xuyên tiếp xúc với nhiều người có những nguồn gốc văn hoá khác nhau, những nhóm người có phong tục tập quán khác nhau.
Do đó, đòi hỏi nhân viên xã hội cần có những hiểu biết lịch sử văn hoá của nhóm ngt hiểu giá trị đạo đức, cách thức suy nghĩ, tôn giáo, tuyén thống, cách thức đối phó với những thay đổi hay sốc thần kinh. Sự hiểu biết về nền văn hoá, phong tục, tập quán của đối tượng (cá nhân, nhóm, cộng đồng) sẽ giúp nhân viên xã hội tạo lập mối quan hệ tốt với đối tượng, thu hút được đối tượng tham gia vào giải quyết vấn đề. Cách thể hiện nhu cẩu của con người cũng bị chỉ phối bởi yếu tố văn hoá, do vậy nắm được đặc điểm phong tục tập quán của đối tượng sẽ giúp nhân viên xã hội dé dàng phát hiện nhu cầu của đối tượng. và tìm cách đáp ứng phủ hợp.
* Một số lưu ý để giao tiếp đạt hiệu quả như mong muốn tức là thẻ hiện sự giao tiếp chuyên nghiệp.