Chương 3 XỬ LÍ V À PH Ả N HỒI KẾT QUẢ KIỂM T R A ĐÁNH GIÁ MỤC TIÊU Sau khi học xong chương này, sinh viên sẽ: - Hiểu và vận dụng được xu hướng đổi mói và triết lí đánh giá vì sự tiến bộ học tập. - Hiếu và vận dụng được các yêu cầu, nguyên tắc kiểm tra đánh giá hỗ trợ cải tiến chất lượng học tập. - Hình thành kĩ năng phản hồi từ két quả của các bài kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh và sử dụng các dữ liệu phân tích từ bài kiểm tra nhằm nâng cao chất lượng học tập trên lớp. - Hiểu và vận dụng được theo cách tiếp cận đối mới về kiểm tra đánh giá dành cho các cấp học do Bộ Giáo dục và Đào tạo quỵ định.
NỘI DUNG - Xu hướng đổi mới và triết lí đánh giá vì sự tiến bộ học tập. - Yêu cầu, nguyên tắc kiếm tra đánh giá hỗ trợ cải tiến chất lượng học tập. - Xử lí két quả kiêm tra đánh giá. - Phản hồi kết quả kiếm tra đánh giá.
- Các quan điếm và văn bản hiện hành về kiểm tra đánh giá. Xu hướng đổi mới và triết lí đánh giá vì sự tiến bộ học tập 3. Xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá hoạt động học tập theo cách tiếp cận năng lực Cùng với sự phát triển kinh tế, sự thay đổi cùa xã hội, đòi hói giáo dục phải có sự thay đổi. Xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh tập trung theo các hướng sau: - Chuyển từ chủ yếu sử dụng đánh giá kết quả học tập cuối môn học, khoá học (đánh giá tổng kết) nhàm mục đích xếp hạng, phân loại sang sử dụng đa dạng các loại hình đánh giá, coi trọng đánh giá thường xuyên, định kì sau từng phần, tùng chương nhàm mục đích phản hồi điều chinh quá trình giảng dạy và học tập (đánh giá quá trình).
- Chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, kĩ năng sang đánh giá năng lực của người học. Tức là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức. - Chuyển từ đánh giá một chiều (giáo viên đánh giá), sang đánh giá đa chiều (không chỉ giáo viên đánh giá mà học sinh cùng đánh giá - tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau). 175 - Chuyển đánh giá từ một hoạt động độc lập với quá trình dạy học sang việc tích họp đánh giá vào quá trình dạy học, xem đánh giá là một phương pháp dạy học.
- Sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra đánh giá: Sử dụng các phần mềm thẩm định các đặc tính đo lường cùa công cụ (độ tin cậy, độ khó, độ phân biệt, độ giá trị) và sừ dụng các mô hình thống kê vào xử lí phân tích, lí giải kết quà đánh giá. Triết lí đánh giá Để tối ưu hoá việc giảng dạy nhằm đảm bảo thúc đẩy học tập/phát triển người học, mỗi giáo viên phải hiểu rõ triết lí 176 đánh giá: đánh giá để phát triền học tập, đánh giá như là quá trình học và đánh giá kết quà học tập. Đánh giá để phát triển học tập hay đánh giá vì sự tiến bộ của người học (assessment for learning): là xác định rõ kiến thức nền tảng và các kĩ năng của học sinh, đồng thời theo dõi sự tiến bộ của các em trong việc học tập. Đánh giá để phát triển học tập đòi hỏi giáo viên sử dụng thông tin về kết quả kiểm tra đánh giá để cải thiện hoạt động giảng dạy, phát triển năng lực của học sinh.
Kiểm tra đánh giá vì sự tiến bộ nghĩa là đánh giá phải diễn ra trong suốt quá trình dạy học, phải cung cấp những thông tin phản hồi giúp giáo viên biết từng học sinh tiến bộ đến đâu, những lĩnh vực nào có sự tiến bộ, chồ nào còn yếu để điều chinh quá trình dạy học. Đánh giá để phát triển học tập hay vì sự tiến bộ cùa học sinh thay vì để xếp hạng, chủ yếu phản hồi cho người học biết những điểm mạnh, điểm yếu để học sinh điều chỉnh cách học, cải thiện thành tích; đánh giá phải làm sao để học sinh không sợ hãi, không bị thương tổn để thúc đẩy học sinh nỗ lực học tập. Đánh giá vì sự tiến bộ cùa học sinh còn có nghĩa là sự đánh giá phải diễn ra trong suốt quá ưình dạy học, giúp học sinh so sánh, phát hiện mình thay đổi thế nào trên con đường đạt mục tiêu học tập của cá nhân đã đặt ra. Kiểm tra đánh giá ở các trường phổ thông hiện nay chi là chấm điểm phục vụ mục đích xếp loại mà chưa chú trọng đến sự phản hồi vì sự tiến bộ của học sinh.
Giáo viên chấm bài kiểm tra thường chi cho điểm hoặc chỉ phê chung chung, bài làm “sơ sài”, “sai”, “làm ẩu”. hay chỉ viết kí hiệu sai hay kí hiệu đúng chứ chưa chi rõ cho học sinh biết tại sao sai, sai như thế nào. Sự phản hồi không đầy đủ, phản hồi tiêu cực, không mang tính xây dựng như vậy thường làm học sinh mất niềm tin, không có động lực để sửa lỗi, làm cho người học 177 chán nản. Theo các chuyên gia đánh giá giáo dục, phản hồi mang sắc thái xúc cảm âm tính, tiêu cực, làm người học xẩu hồ, mất tự tin.
Bên cạnh đó, nếu giáo viên có phản hồi (chữa bài) lại thường đưa ra lời giải đúng theo cách tư duy “áp đặt” của mình, mà không giúp các em phân tích mổ xè những cách tư duy chưa phù họp cùa học sinh dẫn đên sự sai sót. Kiểm tra đánh giá lại khuôn vào một số kiểu loại bài toán, dạng bài văn, không nhằm bộc lộ năng lực suy nghĩ, sự trải nghiệm đa dạng, phong phú cùa người học (dù là chưa phù hợp), tức là tập trung vào một số kiểu đề chi để đáp ứng các kì thi, điều này dễ làm cho quá trình dạy học bị bóp méo chi để phục vụ mục đích thi cử. Đánh giá như một quá trình học/đánh giá là hoạt động học tập (assessment as learning): cho phép học sinh phàn ánh, nói ra những suy nghĩ, kể cả những suy nghĩ không đúng và tự đánh giá sự tiến bộ của mình theo mục tiêu học tập cá nhân. Khi xem đánh giá với tư cách là một quá trình học tập thì học sinh không chỉ là người bị đánh giá mà còn là người cùng tham gia đánh giá, giáo viên giúp học sinh học cách tự phàn hồi để biết mình mắc lỗi, thiếu hoặc yếu ở điểm nào để điều chỉnh hoạt động học của chính mình.
Đánh giá như là hoạt động học tập đòi hỏi giáo viên phải chỉ dẫn cho học sinh cách thức đánh giá thế nào, học sinh phải học được cách đánh giá của giáo viên, phải biết đánh giá lẫn nhau và biết tự đánh giá. Có như vậy, học sinh mới chủ động tự phản hồi, giám sát kết quả học tập của mình tiến bộ đến đâu, tốt hay chưa tốt như thế nào. Đánh giá phải tạo ra, nâng cao năng lực đánh giá cùa chính người học, tức là giúp các em hình thành khả năng tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau. để phát triển năng lực tự học của từng học sinh, đây cũng là mục tiêu giáo dục.
178 Đánh giá về kết quả học tập (assessment of learning): hỗ Irợ giáo viên cách sử dụng chứng cứ để xác nhận kết quả học tập của học sinh theo mục tiêu và chuẩn. Sau khi học sinh kết thúc một giai đoạn học thì tổ chức đánh giá tổng kết, kết quá đánh giá thường là những điểm số dùng để xếp hạng, phân loại học sinh, đổi chiếu với mục tiêu và chuẩn để biết học sinh đã đạt được ở múc độ nào. Yêu cẩu, nguyên tắc kiểm tra đánh giá hỗ trợ cải tiến chất lượng học tập 3. Phải kiểm tra đánh giá được các năng lực khác nhau của học sinh - Mồi cá nhân để thành công trong học đường, thành đạt, hạnh phúc cần sở hữu nhiều loại năng lực khác nhau.
Do vậy, giáo viên phải sử dụng nhiều loại hình, công cụ nhằm kiểm tra đánh giá được các loại năng lực khác nhau của người học để kịp thời phàn hồi, điều chinh hoạt động dạy học và giáo dục. - Năng lực của cá nhân thể hiện qua hoạt động (có thể quan sát được ở các tình huống, hoàn cảnh khác nhau) và có thể đo lường/đánh giá được. Mỗi kế hoạch kiểm ưa đánh giá cụ thể phải thu thập được các chứng cứ cốt lõi về các kiến thức, kĩ năng, thái độ. được tích hợp trong những tình huống, ngữ cảnh thực tế.
- Năng lực thường tồn tại dưới hai hình thức: năng lực chung (key competencies) và năng lực chuyên biệt (domain- specific competencies). Năng lực chung là những năng lực cần thiét dẻ ca nhan co thẻ tham gia hiệu quá ưong nhièu loại hoạt động và các bối cảnh khác nhau cùa đời sống xã hội. Năng lực chung cần thiết cho mọi người. Năng lực chuyên biệt thường liên quan đến một môn học cụ thể (ví dụ: năng lực cảm thụ 179 văn học trong môn Văn.) hoặc một lĩnh vực hoạt động có tính chuyên biệt (ví dụ: năng lực biểu diễn kịch câm; năng lực nhảy dancesport.), cần thiết ở một hoạt động cụ thể, đối với một số người hoặc cần thiết ở những bối cảnh nhất định.
Các năng lực chuyên biệt không thể thay thế các năng lực chung. - Năng lực của mỗi cá nhân là một phổ từ năng lực bậc thấp như nhận biếưtìm kiếm thông tin (tái tạo). tới năng lực bậc cao (khái quát hoá/phản ánh). Ví dụ: Theo nghiên cứu cùa OECD (2004) thì có ba lĩnh vực năng lực từ thấp đến cao: (1) Lĩnh vực năng lực I: Tái tạo; (2) Lĩnh vực năng lực II: Kết nối; (3) Lĩnh vực năng lực III: Khái quát hoá/phản ánh).
Do vậy, kiểm tra đánh giá trên lớp học phải bao quát được cả 3 lĩnh vực này. - Năng lực và các thành tố của nó không bất biến mà được hình thành và biến đổi liên tục trong suốt cuộc sống của mỗi cá nhân. Mỗi kết quả kiểm tra đánh giá chi là một “lát cắt”, do vậy, mỗi phán xét, quyết định về học sinh phải sử dụng nhiều nguồn thông tin từ các kết quả kiểm tra đánh giá. Đảm bảo tính khách quan Nguyên tắc khách quan được thực hiện trong khi kiểm tra và đánh giá nhàm đảm bảo sao cho kết quả thu thập được ít chịu ảnh hường từ những yếu tố chủ quan khác.
Sau đây là một số yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc khách quan: - Sử dụng đa dạng các loại hình, phương pháp, kĩ thuật khi đánh giá học sinh.