chương 1. Vũ Thị Loan, Phó bộ môn kiểm toán, biên soạn chương 2. Nguyễn Thị Kim Anh, giảng viên bộ môn kiểm toán, biên soạn chương 3. Ngô Thuý Hà, giảng viên bộ môn kiểm toán, biên soạn chương 4.
Nguyễn Phương Thảo, giảng viên bộ môn Uciểm toán, biên soạn chương 6. Trong quá trình biên soạn giáo trình này, chúng tôi inhận được rât nhiêu sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến cùa các đđông nghiệp. Mặc dù đã có rất nhiều cố gang trong công tác biên SbO ạn, xong đây là lẩn biên soạn đầu tiên nên chac chắn không tiránh khỏi những thiếu sót. Tập thể tác giả rất mong tiếp tục mhận được nhũng ý kiên đóng góp quý báu của các đồng nghiệp, của bạn đọc để giáo trình được hoàn thiện hơn Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Tập thể tác: giả 8 Chương ỉ T Ó N G Q U A N V È K IÉ M T O Á N 1.
Lici sứ hình thành và phát triển cua kiếm toán 1. Trên th ể ỊỊĨói Vơi vai trò là một công cụ kiểm tra tài chính, phục vụ yêu cầu quàn lý kinh te, khái niệm “Kiêm toán” (Audit) có nguôn gốc lịch sư hàng ngàn năm Tuy nhiên, từ những hình thức sơ khai ban đầu cho đến nay, hoạt động kiểm toán đã trải qua một q u á trim phát triển phức tạp g ẳn liền VỚI c á c sự kiện lịch sứ trên thế giới và luôn được hoan thiện để đáp ứng được yêu cẩu quản lý kinh ê trong từng thời ký Cic tài liệu đầu tiên liên quan đến lĩnh vực kiềm toán được tìm thấv trong thư viện của Cục Ngân khô Hoàng gia Anh. Các tài liệu này cho thây hoạt động kiêm toán đã hình thành ngay từ những răm 1130- ] 200. Tir thế kỳ 15 trớ về trước, hoạt động kiểm toán chỉ gắn liền VỚI việc ghi chép các nghiệp vụ 1lèn quan đến hoạt động cùa Nhà nuírc.
Hinh thức kiểm toán ban đầu chỉ là việc giao cho hai người khác nhau cùng ghi chép một nghiệp vụ kinh tè. Người Ai Cập cổ đai đã quản lý tài chính bằng cách phân công hai quan chức thưc hiện việc ghi chép độc lập các hóa đơn thuế cùa Nhà nước. Nhà nước La Mă cổ đại lại quy đinh việc kiềm tra chéo giữa các quan chức thực hiện nhiệm vụ chi tiêu ngân khò với các quan clức phê duyệt chi tiêu. Vào thời kỳ trung đại, hoạt động 9 kiểm toán các thái ấp lớn được thực hiện rộng rãi bời cáic kiểm tra viên độc lập và báo cáo cho các quan chức cao câp c ủ a chính quyền địa phương.
Cách mạng công nghiệp (1750 - 1850) là chất xúc ttác cho sự phát triển kinh tế vĩ đại tại nước Anh, một trong n h ữ ng đặc trưng đó là sự chuyển quyền quản lý tài sản từ người s ở hữu sang những nhà quản lý chuyên nghiệp. Do đó, giai đoạn 1 850 - 1905, nảy sinh nhu cầu rất lớn về những người kiểm tra đ ộ c lập để phát hiện những sai phạm của các nhà quản lý và biáo cáo định kỳ về kết quả công việc của họ cho các chù sờ hữu trài sản Đen năm 1984, nước Anh ban hành Luật công ty c ổ phần - Luật công ty Cổ phần đầu tiên trên thế giới, cùng với sự x u ấ t hiện khái niệm Kiểm toán viên. Từ đây, hình thức sơ khai Víê nghê nghiệp kiểm toán bắt đầu xuất hiện. Mặc dù, kế toán đã !là một công cụ kiểm soát hữu hiệu lúc bấy giờ bằng việc sừ dụng phương pháp ghi sổ kép nhưng không thể ngăn được sụr hoàn thiện của kiểm toán về mọi mặt Từ năm 1905 - 1930, chức năng của kiểm toán đã thiay đổi mạnh mẽ ở Anh và Mỹ.
Ở Mỹ, chức năng cùa kiềm toáán dân thay đổi từ việc phát hiện gian lận và sai sót đến việc cumg câp những báo cáo về mức độ trung thực cùa các báo cáo tài chính so với thực trạng tài chính cùa đơn vị với phương phápi kiểm toán chù yếu là tiến hành các thử nghiệm (testing) Tưy mhiên, tại nước Anh, mục tiêu cơ bản cùa kiểm toán vẫn là pháit hiện gian lận và sai sót trong khi các thủ tục kiểm tra ch: triết lại chiếm phần lớn. Mặc dù, các kiểm toán viên nhận ra được wai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ nhưng sự hoạt động của mó vẫn 10 chưa có những ảnh hường lớn đên phạm vi và thời gian cùa một cuộc kiềm toán Tù năm 1929 đen năm 1933, loài người phải chứng kiến sự nghiệt ngã của cuộc đại khùng hoảng kinh te trên quy mô toàn thế giới Tâm điềm là sự kiện sụp đổ cùa thị trường chứng khoán phố Wall vào ngày 29-10-1929, còn gọi là “ngày Thứ Ba đen tối”, mệt trong những cuộc sụp đổ có sức tàn phá nặng nê nhât trong lịch sừ nuớc Mỹ. Sự phá sản của hàng loạt tổ chức tài chính lẻ dấu hiệu chứng minh yếu điềm cúa-kế toán so với yêu cầu quải lý mới. Nim 1934, ử y ban Chứng khoán quốc gia Hoa Kỳ (SEC - Security and Exchange Commission) đã ban hành Luật trao đồi Chứng choán trong đó quy định các báo cáo tài chính phải được kiểm tom bời các kiểm toán viên độc lập (Independent Public or Certified Accountant).
Học viện Ke toán viên Công chửng Hoa Kỳ (Anerican Institute o f Certified Public Accountants - AICPAi cũng công bố Chuẩn mực về Báo cáo kiểm toán các tài khoản ỉủa công ty. Năm 1941, Học viện Kiểm toán nội bộ (Instituie of Internal Audit - IIA) được thành lập và đen năm 1947 đi ban hành một vãn bản nhăm xác đinh chức năng và nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ. Tx năm 1940 trờ đi, các chuyên gia về kiểm toán đã chấp nhận nụ c ticu cơ bàn của kiểm toán là cung cấp những đánh giá về Sự tiung thực cùa các báo cáo tài chính chứ không phải chỉ là việc phát hiện ra các gian lận và sai sót như trước đây. Đồng thời, CC sự thay đổi mạnh mẽ về phương pháp và nội dung kiềm toán.
Các thử nghiệm được sử dụng rộng rãi bên cạnh việc kiểm 11 tra chi tiết được áp dụng trong các trường hợp đặc biệt. Đông thời, vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ ngày càng tlh‘ể hiện rõ như là một nhân tố quan trọng quyết đinh bản chất, thiời gian và phạm vi của các thú tục kiểm toán.Thêm nữa, các phương pháp thống kê cũng được sử dụng để quyết định phạm vi của các thử nghiệm, mặc dù chưa được áp dụng rộng rãi. Trong khoảng những năm 1972, thuật ngữ rủi ro kiểm toán b ắt đầu được nhắc đen. Hiện nay, trên thế giới có hàng chục vạn công ty kiểỉm toán đăng ký hoạt động và được công nhận.
Trong so đó, nổi liên một sô công ty thật sự là các “đại gia” hàng đầu trong lĩnh VỰÍC kiểm toán, có mặt ở hầu hết tất cả các nước trên thế giới. Vào khoảng thập niên 70 cùa thế kỷ 20, người ta thường nhắc đếin (Big Eight) tám công ty giữ vị trí thống soái về lĩnh vực kiểm tioán và tư vân kê toán. Đen năm 1989, sau một số cuộc sáp nhậip giữa các công ty trên cùng VỚI đó là scandal tai tiếng vào tháng 6/2002, được biết đến là sự kiện phanh phui “liên minh m a quái” giữa Tập đoàn năng lượng Enron VỚI một trong tám “đại gia” - công ty kiếm toán Arthur Andersen, Big Eight đã chuyểm thành Big Four bao gồm các công ty: Deloitte & Touche, Eirnst & Young, KPMG và PricewaterhouseCoopers. Trong lĩnh vực công cộng, đã xuất hiện nhiều tổ ch ứ c kiểm toán của Chính phủ trong các lĩnh vực quân đội, hành chíính và các xí nghiệp công cộng từ thế kỷ 18 tại các nước châu Au.
Năm 1714, ờ Đức, dưới thời vua Phổ - Friedrich Wilhelm I, sẳic lệnh thành lập phòng Thẩm kế tối cao được ban hành Các kiểrm toán viên thường được mời đến dự các phiên toàn xét xử VỚI tur cách 12 là người thu thập thông tin chứ hoàn toàn không có quyên phát biểu ý kiến. Năm 1807, dưới thời Hoàng đê Napoleon I, tại Pháp, Tcà Thầm kế (Cour des comptes) cũng đã được thành lập. Các kiểrn toán viên thường được mời đen tham dự các cuộc họp quan trọng trong nội các chính phù VỚI mục đích lựa chọn trong số nhiều đại biểu những ứng viên xuất sắc cho việc đào tạo kiểm toán viêr Nãm 1867, ờ Nga, trong danh mục các chức tước quan trọig nhất có hẳn một chương mục dành để mô tả VỊ trí kiểm toén viên - những người có ham vị trong lực lượng quân đội. Năn 1972, Cơ quan Tổng Ke toán Hoa Kỳ (General Account ng Office - GAO) đã công bố Chuẩn mực Kiểm toán tối cao (đưcc hoàn thiện qua các năm 1981, 1994).
Điều này đã khẳng đnh lợi ích của kiếm toán trong khu vực phi thương mại cùng vớ những quan điểm và phương pháp mới để đánh giá hiệu quảcúa các nghiệp vụ này. Ở Việt N am Nếi như thuật ngữ kiểm toán và hoạt động nghề nghiệp kiểm toái đã được biết đến và phát triển từ lâu trên thế giới thi tại Việt Mam kiểm toán mới được chấp nhận từ khi chuyển đổi cơ chê quản lý từ nên kinh tê kê hoạch hoá sang nên kinh tê thị trường cá đinh hướng cùa nhà nước. Trong cơ chế quán lý kinh tế mới, Nha nước lãnh đạo và quản lý nền kinh tế không phải bang biệi pháp hành chính mà bang pháp luật, bang biện pháp kinh tế, băng đòn bấy và công cụ kinh tê. Kinh tê thị trường cũng đò) hòi các hoạt động kinh tê - tài chính phải diễn ra một cách bình đẳng, công khai, minh bạch Hoạt động kiểm toán hình thàih và phát triển trở thành một nhu cầu tất yếu đối VỚI 13 hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượng quản lý tài chính Thừa hưởng được những thành quả trong sự phát tritèn cùa ngành nghề kiểm toán trên thế giới, ngay từ những ngày iđầu, cả ba loại hình kiểm toán Kiểm toán độc lập, Kiểm to á n Nhà nước và Kiểm toán nội bộ đều được chú ý hình thành v à phát triển ờ Việt Nam.
- Kiểm toán độc lập: Ngày 13/5/1991, Bộ Tài chính đã ký quyết đinh thành lập hai công ty Kiểm toán đầu tiên: Công ty Kiểm toán V iệt Nam - VACO (nay là công ty Deloitte Việt Nam) và Công ty dịcih vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán Việt Nam -A ASC ((nay là công ty TNHH Tư vấn tài chính kế toán và Kiểm toản).