Chương 1, tác giả nêu lên lý do, mục tiêu, cũng như phương pháp nghiên cứu của đề tài “Quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định do Công ty TNHH Grant Thornton (Việt Nam) thực hiện”. Đồng thời, tác giả cũng tìm hiểu tổng quan các nghiên cứu khác để cũng cố thêm về sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Khảo lược các nghiên cứu Trên thế giới Nghiên cứu của Sorin Domnişoru và Sorin Vînătoru (2008) Với đề tài “The Financial Audit Complexity of The Fixed Assets” tạm dịch là “Độ phức tạp trong kiểm toán tài sản cố định” được hai tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp, tiếp cận, suy luận và tổng quan hóa đề tài. Bài nghiên cứu tập trung vào khía cạnh về hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như thử nghiệm kiểm soát đối với tài sản cố định.
Kết quả của bài nghiên cứu đã giúp cho người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về mối liên hệ giữa các chu trình kinh doanh trong doanh nghiệp với các tài sản. Tuy nhiên, bài viết chỉ đang dừng lại ở thử nghiệm kiểm soát, một phần trong quy trình kiểm toán tài sản cố định chứ chưa đào sâu vào các thủ tục khác. Nghiên cứu của Ririn Nur Fadila và Diah Hari Suryaningrum (2023) Đề tài “Fixed Assets Account Audit Procedures at the YG Community Health Center” tạm dịch là “Quy trình kiểm toán tài sản cố định tại Trung tâm Y tế Cộng đồng YG” được hai tác giả sử dụng phương pháp định tính, cụ thể là mô tả và phân tích dữ liệu thứ cấp. Chính vì vậy, bài viết này là một nguồn thông tin đáng tin vậy và hữu ích đối với người đọc.
Bài nghiên cứu đã chỉ ra chi tiết các thủ tục kiểm toán tài sản cố định cùng với các hình ảnh, bảng biểu minh họa. Mặt khác, do các tác giả chỉ đưa ra nhận định dựa trên một loại hình doanh nghiệp cụ thể, vì thế các thủ tục trên chưa thật sự đầy đủ cũng như không chắc chắn có thể áp dụng được cho tất cả các tổ chức khác. Nghiên cứu của Dianafi Rizka Amalia và Ayu Chairina Laksmi (2024) Chủ đề “Implementation of fixed assets audit at PT U by KAP Y” tạm dịch “Triển khai Kiểm toán Tài sản Cố định tại PT U bởi KAP Y” được nghiên cứu bằng phương pháp định tính. Hai tác giả đã thành công trong việc liệt kê được các thủ tục 6 trong quy trình kiểm toán tài sản cố định đặt trong bối cảnh tại một Công ty kiểm toán (KAP Y) với khách hàng là Công ty PT U, đồng thời mang lại cái nhìn khái quát và toàn diện về các bước trong kiểm toán tài sản cố định nói riêng và cuộc kiểm toán nói chung.
Song, đề tài chưa đưa ra được các minh chứng cụ thể cho các thủ tục này do bảo mật thông tin. Tại Việt Nam Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Anh và Nguyễn Văn Công (2020) Đề tài “Hoàn thiện quy trình kiểm toán tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán định giá và tư vấn tài chính Việt Nam” không chỉ là những đề xuất kiến nghị nhằm mục đích hoàn thiện quy trình kiểm toán, hai tác giả đã sử dụng phương pháp định tính để đưa ra những nội dung về thứ tự các bước trong quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định. Từ đó mang đến cho người đọc cái nhìn tổng quan, nâng cao hiểu biết vấn đề được nghiên cứu. Không những vậy, những giải pháp mà các tác giả nêu lên cũng có thể áp dụng bởi các đối tượng khác ngoài Công ty TNHH Kiểm toán định giá và tư vấn tài chính Việt Nam.
Tuy nhiên, bài viết cũng còn tồn đọng một số hạn chế. Cụ thể, các thủ tục kiểm toán chưa được phân tích chi tiết, nói cách khác quy trình kiểm toán chỉ mới dừng lại ở nội dung lý thuyết, chưa thật sự liên hệ với thực tế. Nghiên cứu của Vũ Thị Thương (2022) Với đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán tài sản cố định doanh nghiệp” tác giả bước đầu trình bày chi tiết các bước trong quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định bằng phương pháp định tính. Đồng thời, trong quá trình tìm hiểu, tác giả đã đề xuất được một số giải pháp có đóng góp quan trọng cho lĩnh vực này.
Đây là một sự thành công lớn đối với bài nghiên cứu. Song, chính vì tác giả tập trung vào vấn đề hoàn thiện quy trình kiểm toán tài sản cố định, những nội dung về các thủ tục kiểm toán chưa được làm rõ.2 Khoảng trống nghiên cứu 7 Từ những bài nghiên cứu trên, tác giả nhận thấy rằng ở mỗi công ty, doanh nghiệp đều sẽ có quy trình kiểm toán nói chung và quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định nói riêng nhưng vẫn tuân thủ các Chuẩn mực kiểm toán cũng như các quy định khác liên quan. Mặc dù chủ đề về quy trình kiểm toán tài sản cố định đã được thực hiện nhiều trước đó tại các không gian và đối tượng khác nhau, song tác giả vẫn chưa tìm thấy bài viết nào nghiên cứu về công tác thực hiện kiểm toán tài sản cố định tại Công ty TNHH Grant Thornton (Việt Nam). Do đó, từ việc kế thừa các nghiên cứu trước, cùng với những kiến thức đã tích lũy được sau ba tháng thực tập tại đơn vị này, tác giả quyết định chọn đề tài “Quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định do Công ty TNHH Grant Thornton (Việt Nam) thực hiện” để làm bài viết Khóa luận tốt nghiệp.
Mục đích của bài viết này nhằm hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định, tìm hiểu tổng quan về Công ty TNHH Grant Thornton (Việt Nam) và thực trạng công tác kiểm toán tại đơn vị. Từ đó, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và đồng thời đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định cho doanh nghiệp. 8 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Tại Chương 2, tác giả đã khảo lược một số các nghiên cứu tiêu biểu cùng chủ đề. Nghiên cứu về kiểm toán tài sản cố định đã được đề cập đến trong nhiều bài viết khác nhau, mang lại cái nhìn toàn diện về các phương pháp và quy trình kiểm toán.
Nhìn chung, các bài nghiên cứu viết về chủ đề này thông thường làm rõ các nội dung như các thủ tục kiểm toán trong quy trình kiểm toán TSCĐ. Bên cạnh đó còn có một vài bài viết chú trọng đến một vài yếu tố trong cả một quy trình kiểm toán mà không liệt kê chi tiết toàn bộ. Điểm chung của những bài viết đã đề cập sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, tiếp cận, suy luận và tổng quan hóa đề tài; phương pháp định tính, cụ thể là mô tả và phân tích dữ liệu thứ cấp phục vụ cho việc nghiên cứu. Tất cả các nghiên cứu này đều góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiểu biết về kiểm toán tài sản cố định, mỗi nghiên cứu mang lại những giá trị và hạn chế riêng biệt, bổ sung lẫn nhau để hoàn thiện kiến thức trong lĩnh vực này.
9 CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 3.1 Cơ sở lý thuyết tài sản cố định 3.1 Khái niệm tài sản cố định TSCĐ là khoản mục được trình bày trên Bảng cân đối kế toán tại phần B - Tài sản dài hạn, chủ yếu bao gồm TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính và bất động sản đầu tư. TSCĐ hữu hình: Dựa theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03, TSCĐ hữu hình được hiểu “là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình”. TSCĐ vô hình: Dựa theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04, TSCĐ vô hình “là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình”. TSCĐ thuê tài chính: “Là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê.
Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê” trích Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 06. Bất động sản đầu tư: “Là bất động sản, gồm: quyền sử dụng đất, nhà, hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để: sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý; hoặc bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường” theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 05.2 Điều kiện ghi nhận tài sản cố định ❖ Tài sản cố định hữu hình 10 Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03 – TSCĐ hữu hình, khi tất cả các chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thỏa mãn đồng thời cả bốn tiêu chuẩn sau đây sẽ được coi là TSCĐ hữu hình: ˗ “Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; ˗ Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy; ˗ Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm; ˗ Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.” Theo Thông tư 45/2013/TT-BTC, “nguyên giá tài sản phải có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên”. Nếu một khoản chi phí không thỏa mãn các tiêu chuẩn trên, tức là không đáp ứng đủ các yêu cầu về thời gian sử dụng và giá trị, không hình thành TSCĐ hữu hình sẽ được coi là công cụ, dụng cụ. ❖ Tài sản cố định vô hình Theo Điều 3 của Thông tư 45/2013/TT-BTC và Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04 – TSCĐ vô hình, tất cả các chi phí thực tế đã chi thỏa mãn đồng thời cả bốn tiêu chuẩn xác định TSCĐ hữu hình nhưng không hình thành TSCĐ hữu hình được coi là TSCĐ vô hình.
Những khoản chi phí không đồng thời thỏa mãn cả bốn tiêu chuẩn xác định TSCĐ hữu hình thì được hạch toán trực tiếp hoặc được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.3 Kế toán tài sản cố định 3.