CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE INTERNET Mục tiêu Học xong chương này, người học có khả năng: ~ Trình bày được các khái niệm cơ bản về infemet. - Thyc hién duge cdc phuong phap két ndi Intemet; tao kết nỗi Intemet. ~ Nghiêm túc, cin thận, chính xác, đâm bảo an toàn khi sử dụng máy tính, và các thiết bị điện. Giới thiệu Internet Internet được xem như là một “mạng của các mạng", được hình thành bằng việc kết nỗi các máy tính và các mạng máy tính riêng rễ với nhau, tạo ra một mạng chưng rộng lớn có tính chất toàn cầu.
Nam 1989, dich vu World Wide Web (WWW hay Web) ra déi, với những tinh năng ưu việt, đã phát triển nhanh chóng để cấu thành phần lớn nhắt của Imemet. Những dịch vụ (thành phần) còn lại của Intemet gồm: + E-mail - Thu dign từ + Intemet Ralay Chơi (IRC) - Hội thoại qua Internet + _FTP- Truyền file + E-commerce - Thuong mại điện từ + Video Conference - Cầu truyền hình được thiết lập giữa các máy tính với sự trợ giúp của các thiết bị ghi hình số. + Intemet Telephony - Điện thoại Internet + Gopher- Dịch vụ tra cứu thông tin trén mang theo chủ đề được tổ chức thành các ‘menu, + Usenet - Dich vy nhém thông tin, về cơ bản cũng tương tự như e-mail, ngoại trừ việc những thông điệp của người gửi được đánh địa chỉ cho cả một nhóm thay vì một cá nhân, và bất kỳ ai muốn cũng có thể đọc mọi thông điệp này. Dịch vụ này được thiết kế cho những hoạt động như những diễn đàn công cộng để trao đổi thông tin, ý kiến, thảo luận.
Với tốc độ phát triền phi thường, qui mô của Internet đã tăng lên nhanh hơn bắt kỳ mạng nào khác đã từng được rạo, kể cả mạng điện thoại chuyển mạch công cộng (PSTN). Đầu năm 1998, hơn 2 triệu Web server và hơn 30 triệu hệ thống máy tính đã được nỗi kết với Intemet và những con số này đã tăng ôn định trong suốt thời gian từ đó đến nay. Kết quà là Intemet có thê được xem như là sự hiện thân cơ bản và đầu tiên của. một siêu xa lộ thông tìn hoặc cơ sở hạ tầng thông tin của các quốc gia.
'Ban đầu Internet được định hướng nghiên cứu và bộ giao thức truyền thông TCP/IP. của nó đã được thiết kế cho một môi trường đoàn thể ôn hoà, trong đó những người dùng tin cậy lẫn nhau và quan tâm đến một sự trao đổi thông tin tự do, thoải mái. Nhưng do tính hữu dụng của nó, Internet đã được phát triển và mở rộng để liên kết ngày càng nhiều những con người có những sở thích và hành vi đạo lý khác nhau. Điều đó khiến cho Internet ngày càng xoay chuyển khỏi mục đích ban đầu.
Ngày nay, môi trường Internet it mang tính đoàn thé va it đáng tin cậy hơn. Nó chứa đựng tắt cả những tình huống nguy hiểm, những con người có ý đồ xấu và những rủi ro mà người ta có thể tìm thấy trong xã hội. Cùng với những người dùng có mục đích tốt và chân thật của Internet, cũng có những người cố ý xâm nhập vào những hệ thông máy tính được nối kết với nó. Kết quả là Internet bị quấy rầy bởi những kẻ phá rồi.
Trong môi trường này, tính mở rộng của Internet hoá ra là một con dao hai lưỡi. Kế từ ngay sự bắt đầu của nó, nhưng đặc biệt kể từ sự mở rộng của nó vào những năm 1990 và sự thương mại hoá của nó, Internet đã trở thành một mục tiêu phổ biến để tắn công. Thực tế, số lỗ hỗng bảo mật đã leo thang nhanh hơn sự phát triển của toàn bộ Internet. Ngày nay, những cá nhân, tổ chức thương mại và các cơ quan chính phủ phụ thuộc vào Internet cho sự truyền thông và nghiền cứu, do đó có nhiều thứ hơn đề mắt nếu các site của họ bị hư hại.
Thực tế, hầu như mọi người trên Internet đều dễ bị tắn công và những vấn đề bảo mật của Internet là trọng tâm của sự chú ý, tạo ra nhiều mối lo sợ khi kết nối vào Internet. Những mỗi quan tâm về vấn đề bảo mật đã bắt đầu làm nản lòng những mong đợi quá nhiệt huyết về tính sẵn sàng của Internet cho toàn bộ hoạt động thương mại, có thé làm trì hoãn hoặc ngăn cản nó trở thành một phương tiện quy mô lớn cho cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, hoặc cơ sở hạ tẳng thông tin toàn cầu. Một số nghiên cứu đã thẳng thắn cho thấy nhiều cá nhân và công ty tránh nối kết với Internet chỉ vì những mối quan tâm bảo mật. Đồng thời, các nhà phân tích cảnh báo các công ty.
về những nguy hiểm của việc không nối kết với Internet. Trong tình huống xung đột này, hầu như mọi người đồng ý rằng Internet cần sự bảo mật nhiều hơn và tốt hơn.Mạng máy tính là một nhóm các máy tính , thiết bị ngoại vi được kết nối với nhau thông qua các phương tiện truyền dẫn như: cáp, sóng điện từ, tia hồng ngoại. giúp các thiết bị này có thể trao đổi với nhau một cách dễ dàng, 2. Các phương pháp kết nối INTERNET Muốn truy cập Internet, ta phải tạo ra một kết nỗi với Internet.
Có ba phương pháp kết nối phổ biến nhất hiện nay là: dịch vụ trực tuyến, nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP), và truy nhập trực tiếp. Truy cập Internet trực tiếp (direct access) Cách truy cập này không cần đến modem, mà thuê bao riêng một đường truyền chuyên dụng (leased line) để truy cập Intemet 24/24 giờ. Dich vu trực tuyến (online serviee) Một số doanh nghiệp như: AOL, Computer Serve, Microsoft Network (MSN), cung cấp nhiều dịch vụ truyền thông, trong đó có truy nhập trực tuyến Internet. Khi sử dụng dịch vụ trực tuyến, ta phải chạy chương trình kết nối của các doanh nghiệp này đế đăng nhập vào các dịch vụ cũng của họ.
Nha cung edp dich vu Internet ISP (Internet Service Provider) ISP là một công ty chuyên dụng, cung cắp các tuỳ chọn không nhiều bằng dịch vụ. Ngoài việc cắp quyền truy cập Internet, ISP còn cấp cho khách hàng một tài khoản e-mail. Ở Việt nam hiện có các ISP đang hoạt động là: Công ty điên toán và truyền số liệu VDC, VNN của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông, công ty FPT, 'Viettel và Netnam của Viện Công nghệ Thông tin Quốc gia. Hiện nay các ISP cung cấp.
hai dịch vụ kết nối vào Internet phổ biến là dịch vụ quay số (Dial-up) và ASDL. Dịch vụ quay số 'Với dịch vụ này, việc truyền dữ liệu qua mạng được thực hiện thông qua đường điện thoại bằng công nghệ chuyển mạch tương tự, sử dụng giao thức PPP (point to point protocol). Các trạm trên mạng phải sử dụng Modem đề chuyển tín hiệu số từ trạm gửi sang tín hiệu tương tự để có thẻ truyền dữ liệu đi trên các kênh điện thoại và ngược lại biến tín hiệu tương tự thành tín hiệu số cho trạm nhận. Cách thiết lập kết nối với dịch vụ này rất đơn giản, cách tính cước phí là theo phút.
Tuy nhiên dịch vụ này có nhược là do sử dụng các kênh điện thoại để truyền dữ liệu, nên khi nảo kết nối vào Internet thỉ không sử dụng được điện thoại, ngượi lại khi nào gọi điện thoại thì không kết nối được vào Intemet. Hơn nữa tốc độ truyền tải rất thấp, tối đa là 56Kbps cho một đường.3, Dich vu ADSL (Asymmetrical Digital Subscriber Line) ADSL li céng nghé mới nhất cung cắp kết nối Internet tới các thuê bao qua đường, cáp điện thoại với tốc độ cao, cho phép người sử dụng kết nối Internet 24/24 mà không ảnh hưởng đến điện thoại và FAX. Công nghệ này tận dụng hạ tầng cáp đồng điện thoại hiện thời để cung cắp kết nối Internet và truyền dữ liệu tốc độ cao. ADSL là một chuẩn được Viện tiêu chuẩn quốc gia Mỹ thông qua năm 1993 va gin day đã được liên minh viễn thông quốc tế ITU công nhận và phát triển.
ADSL viét tit cia Asymmetric Digital Subscriber Line, đó là đường thuê bao số. không đối xứng, là kỹ thuật truyền được sử dụng trên đường dây từ Modem của thuê bao tới nhà cung cấp dịch vụ. 10 Asymmetric: Tốc độ truyền không giống nhau ở hai chiều. Tốc độ của chiều xuống (từ mạng tới thuê bao) có thể nhanh gấp hơn 10 lần so với tốc độ của chiều lên (từ thuê bao tới mạng).
Điều này phủ hợp một cách tuyệt vời cho việc khai thác địch vụ Internet khi mà chỉ cằn nhắn chuột (tương ứng với lưu lượng nhỏ thông tin mà thuê bao. gửi đi) là có thể nhận được một lưu lượng lớn dữ liệu tải về từ Internet. Digital: Các Modem ADSL hoạt động ở mức bít (0 & 1) và dùng để chuyển thông. tin số hoá giữa các thiết bị số như các máy tính PC.
Chính ở khia cạnh này thì ADSL không có gì khác với các Modem thông thường. Subscriber Line: ADSL ty né chỉ hoạt động trên đường dây thuê bao bình thường nối tới tổng đài nội hạt. Đường dây thuê bao này vẫn có thể được tiếp tục sử dụng cho. các cuộc gọi đi hoặc nghe điện thoại cùng một thời điểm thông qua một thiết bị được sọi là "Spliters", có chức năng tách thoại và dữ liệu trên đường dây.
ADSL xác lập cách thức dữ liệu được truyền giữa thuê bao (nhà riêng hoặc công sở) và tổng đài thoại nội hạt trên chính đường dây điện thoại bình thường. Chúng ta vẫn thường gọi các đường dây này là local loop. Nguyên nhân xuất hiện thuật ngữ local loop lả do người nghe (điện thoại) được kết nối vào hai đường dây mà nếu nhìn từ tổng. đài điện thoại thì chúng tạo ra một mạch vòng (local loop).
pc Modem Service prov Internet a a otoveen those pots a “Thực chất của ứng dụng ADSL không phải ở việc truyền dữ liệu di/dén tong dai điện thoại nội hạt mà là tạo ra khả năng truy nhập Internet với tốc độ cao. Như vậy, vấn. đề nằm ở việc xác lập kết nối dữ liệu tới Nhà cung cấp dịch vụ Internet. Khởi đầu, ADSL được phát minh như một phương cách để phát tán chương trình.
truyền hình trên đường dây điên thoại. Nhưng hiện nay, phần lớn người ta ứng dụng ADSL cho truy nhập Internet tốc độ cao để sử dụng các dịch vụ trên Internet được nhanh hơn. Tạo kết nối Internet Nếu sử dụng dịch vụ ADSL, chúng ta sẽ được ISP hỗ trợ về kỹ thuật, nên không cẩn phải quan tâm tới việc cài đặt modem hay kết nói tới nhà cung cấp dịch vụ. phân này chỉ trình bày cách tạo ra kết nối Dial-up với Internet thông qua mạng của nhà cung cấp địch vu Internet (ISP).
"1 Kết nối quay số (Dial-up) là kiểu kết nối sử dụng Modem và đường truyền điện thoại.