Chương II XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ HỆ THÓNG THÔNG TIN Chương III cung cấp những kiến thức cơ bản về xây dựng và triển khai một HTTT, đây là những nội dung quan trọng mà những người hoạt động trong lĩnh vực HTTT cần nắm được. Đó là: - Những kiến thức cơ bản về quy trình xây dựng một HTTT, các phương pháp, các công cụ sử dụng,. trong xây dựng HTTT. - Những nội dung cơ bản trong quan trị một dự án xây dựng và quản trị một HTTT khi đã được xây dựng và đưa vào hoạt động.
XÂY DỰNG HỆ THÓNG THÔNG TIN 3. Tổng quan về xây dựng hệ thống thông tin Xây dựng mới một hệ thống thông tin luôn cần phải có một kế hoạch rõ ràng bởi nó không chỉ đơn thuần là sự thay mới phần cứng, phần mềm mà nó còn là sự thay đổi trong kỹ năng, quy trình tác nghiệp, tổ chức và hoạt động quản lý. Do đó, khi thiết kế một hệ thống thông tin mới cần phải có sự hiểu biết sâu sắc toàn diện về sự tác động của hệ thống thông tin đó đối với doanh nghiệp. Hệ thống thông tin có thể giúp tỗ chức, doanh nghiệp tự động hóa quy trình kinh doanh làm cho người lao động thực hiện công việc của họ hiệu quả hơn (tính lương chính xác, truy cập tìm kiếm thông tin nhanh v.), hay hợp lý hóa các quy trình thủ tục để hạn chế sự quá tải gây tắc nghẽn công việc.
Hợp lý hóa các thủ tục là việc đơn giản hóa và tiêu chuẩn hóa các thủ tục nhằm cải tiến chất lượng của hoạt động dẫn tới cải tiến chất lượng của hàng hóa, dịch vụ, chất lượng kinh doanh. Mức độ tác động cao hơn của hệ thống thông tin là thiết kế lại quy trình kinh doanh. Khi hệ thống thông tin thay đổi, quy trình kinh doanh được phân tích, các luồng công việc thiết kế lại để cho đơn giản hơn, loại bỏ sự dủư thừa, lặp lại các tác vụ thủ công, Điều này đồi hỏi các chuyên gia xây dựng và phân tích thiết kế hệ thống phải có một tầm nhìn mới về cách thức mà quy trình kinh doanh được thực thi, không chỉ tác động tới một hoặc một phần tổ chức, doanh nghiệp. Thông qua việc hợp lý hóa quy trình hoặc thiết kế lại quy trình kinh doanh, hệ thống thông tin của tổ chức, doanh nghiệp còn có thể thay đổi toàn bộ tổ chức, doanh nghiệp bằng cách thay đổi cách thức thực hiện kinh doanh của doanh nghiệp, tạo.
cho tổ chức, doanh nghiệp sự dịch chuyển từ mô hình kinh doanh cũ sang mô hình kinh doanh mới. Đây cũng là mức độ tác động lớn nhất và sâu sắc nhất của hệ thống thông tin đối với doanh nghiệp và mặc dù việc xây dựng các hệ thống như thế này rất khó, dễ thất bại nhưng nó cũng mang. lại sự nhảy vọt về hiệu quả nếu thành công. Vòng đời hệ thống Hệ thống thông tin mới là một kết quả tự nhiên của quá trình giải quyết vấn đề doanh nghiệp.
Một hệ thống thông tin mới được xây dựng. như là một giải pháp cho một hoặc một số vấn đề mà tổ chức, doanh nghiệp nhận thấy họ đang phải đối mặt. Ví dụ như: Doanh nghiệp, tổ chức hiện tại hoạt động không hiệu quả, hoặc không tận dụng được các cơ hội để thành công hơn trong kinh doanh. Giải pháp tạo ra một hệ thống thông tin để giải quyết vấn đề tận dụng cơ hội của tổ chức, doanh nghiệp còn gọi là xây dựng, phát triển hệ thống.
Mọi hệ thống đều phải trải qua các giai đoạn: Khởi đầu, xây dựng/phát triển, khai thác bảo dưỡng, kết thúc. ~ Giai đoạn khởi đầu: Nảy sinh từ việc có ý định sử dụng máy tính để xử lý thông tin cho công việc nào đó, hoặc hỗ trợ để đạt được mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp là tăng thu nhập, giảm chỉ phí, cải tiến. - Giai đoạn phát triển: Biến ý tưởng trên thành hiện thực. Để làm được điều này, nhà phân tích thiết kế hệ thống, các lập trình viên, người sử dụng cùng làm việc để phân tích các nhu cầu xử lý thông tin của xí nghiệp, cơ quan mà thiết kế nên hệ thống thông tin.
- Giai đoạn khai thác: Sau khi cài đặt, sử dụng hệ thống thông tin để phục vụ cho nhu cầu thông tin của doanh nghiệp, cơ quan. Trong giai đoạn này, hệ thống thông tin liên tục được sửa đổi hoặc bảo trì để giữ cho nó phù hợp với nhu cầu của tổ chức, doanh nghiệp. ~ Giai đoạn kết thúc: Việc tích lũy những thay đổi trong giai đoạn 3 làm ảnh hưởng đến tính hiệu quả của hệ thống. Giai đoạn kết thúc xảy ra khi hệ thống thông tỉn trở thành rắc rối đến mức không thể bảo trì được nữa, việc duy trì nó không còn kinh tế, hiệu quả nên lúc này sẽ bị loại bỏ và vòng đời của hệ thống thông tin lại phải được lặp lại.
Hệ thống thông tin sẽ "chết" khi rơi vào một trong những tình huống bắt lợi sau: Về công. nghệ, về sự mong đợi của người dùng và những ảnh hưởng bên ngoài, về vật lý, về hạch toán,. Từ những vấn đề trên, cần nhận thấy rằng hệ thống thông tin được xây dựng phải có khả năng ổn định cao để khi một phần nào đó của nó bị loại bỏ để thay thể bởi một phần khác. Quy trình xây dựng hệ thống Việc xây dựng một quy trình tổng quát đúng cho mọi trường hợp là một thách thức bởi: Mỗi tổ chức, doanh nghiệp có những đặc thù riêng của nó (quy mô, lĩnh vực nghiệp vụ, hình thức tổ chức và quản lý, văn hóa, điều kiện vật chất.
Vấn đề nảy sinh trong mỗi tổ chức, doanh nghiệp là khác nhau và yêu cầu của tổ chức, doanh nghiệp về hệ thống, thông tin cũng khác nhau (cải tiến, làm mới một phần hay tắt cả), sự thay đổi nhanh chóng của tắt cả những vấn đề đã nêu ra: sự thay đổi của môi trường của hệ thống thông tin cũng như môi trường về công nghệ thông tin trong thời gian phát triển. Những nhà phát triển khác nhau có kỹ năng, kinh nghiệm và phương tiện khác nhau. Tuy nhiên, quy trình xây dựng/phát triển thường có các công đoạn chính như trong hình 3.1 sau: Lập kế hoạch L 4Ì Phântch Ly Thiết kế $7 Ly Thựchin _k———————————— Chuyển giao | Bảo trì |———* Hinh 3. Vong avi phat trién hé thong Nhìn vào hình 3.1 có thể thấy quy trình chung để xây dựng hệ thống.
bao gồm các giai đoạn: Giai đoạn 1: Khảo sát hiện trạng, xác lập dự án và đánh giá hiện trạng để đưa ra giải pháp. Giai đoạn 2: Phân tích hệ thống (giai đoạn thiết kế logic). Giai đoạn 3: Thiết kế hệ thống gồm thiết kế tổng thể và thiết kế chỉ tiết. Giai đoạn 4: Cài đặt, lập trình.
Giai đoạn 5: Khai thác và bảo trì. Quá trình phân tích và thiết kế hệ thống có thể xem xét qua sơ đồ phân tích thiết kế cấu trúc gồm 4 bước chính, tương ứng với 4 giai đoạn đầu tiên. a) Khảo sát sơ bộ và xác lập dự án Là công đoạn giúp hoạch định hệ thống: Tài liệu được tạo ra trong. công đoạn này phải trình bày rõ lý do vì sao tổ chức, doanh nghiệp cần hay không cần xây dựng, phát triển hệ thống thông tin, đưa ra dự kiến phải giải quyết vấn đề đặt ra của doanh nghiệp hay tận dụng những cơ hội trong tương lai của tổ chức, doanh nghiệp; đồng thời xác định phạm vi cho hệ thống dự kiến (yêu cầu tổng thể của hệ thống, các dịch vụ dự kiến hệ thống phải thực hiện); đưa ra những ước lượng về thời gian và những nguồn lực cần thiết.
Khảo sát và xác lập dự án cũng có nhiệm vụ xác định tính khả thi của các phương án xây dựng phát triển hệ thống: - Khả thi về mặt kỹ thuật: Xem xét khả năng kỹ thuật hiện có (về t bị, công nghệ và khả năng làm chủ công nghệ) đủ đảm bảo thực hiện các giải pháp công nghệ được áp dụng để phát triển hệ thống. - Khả thi về kinh tế: Khả năng về tài chính của tổ chức, doanh nghiệp cho phép thực hiện dự án bao gồm nguồn vốn và số vốn có thể huy động trong thời hạn cho phép. Lợi ích mà hệ thống được xây dựng, mang lại, ít nhất là đủ bù đắp chỉ phí phải bỏ ra xây dựng nó (chỉ phí đầu tư ban đầu), những chỉ phí thường xuyên cho hệ thống hoạt động (chỉ phí vận hành) là chấp nhận được với doanh nghiệp. - Khả thi về thời gian: Dự án phát triển trong thời gian cho phép, tiến trình thực hiện dự án được chỉ ra trong giới hạn đã cho.
- Khả thi về pháp lý và hoạt động: Hệ thống vận hành trôi chảy trong. khuôn khổ tổ chức, doanh nghiệp và điều kiện quản lý mà tổ chức, doanh nghiệp có và trong vai trò khuôn khổ của pháp luật hiện hành. Các nhu cầu hệ thống thông tin tổng thể của tổ chức, doanh nghiệp được xác định, nó thể hiện các dịch vụ mà hệ thống dự kiến sẽ cần phải thực hiện, chúng được phân tích thiết lập sự ưu tiên và sắp xếp trong kế hoạch dự án cơ sở. b) Phan tich hệ thống Là công đoạn tìm hiểu, phân tích nhằm xác định các nhu cầu thông tin làm cơ sở cho quá trình thiết kế sau này: Phân tích yêu cầu là công, việc bao gồm các tác vụ xác định các yêu cầu cho một hệ thống mới hoặc.
được thay đổi, dựa trên cơ sở là các yêu cầu mà những người có vai trò quan trọng đối với hệ thống, chẳng hạn người sử dụng đưa ra. Việc phân tích yêu cầu có ý nghĩa quan trọng đối với thành công của một dự án. Việc phân tích yêu cầu một cách có hệ thống còn được gọi là k7 nghé yéu cdu (requirements engineering), đôi khi nó còn được gọi một cách không thật chính xác bằng những cái tên như £hw thập yêu cấu (requirements gathering, requirements capture), hoặc đặc tả yêu cầu (requirements specjfication). Thuật ngữ "phân tích yêu cầu" còn được áp dụng cụ thể cho công việc thuần túy phân tích (thay vì các việc khác chẳng hạn như làm rõ yêu cầu hay viết tài liệu yêu cầu).
Các yêu cầu phải có tính đo được, kiểm thử được, có liên quan đến các nhu cầu hoặc cơ hội doanh nghiệp đã được xác định và các yêu cầu phải được định nghĩa ở một mức độ chỉ tiết đủ cho việc thiết kế hệ thống. Pha phân tích yêu cầu có thể là một quá trình dài và khó khăn, cần đến nhiều kĩ năng tâm lý khéo léo.