Chương I GIÁO DỤC HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC I. GIÁO DỤC LÀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐẶC TRƯNG CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI Để tồn tại và phát triển, loài người không ngừng tác động vào tiie giới khách quan, nhặn thức thè gioi khách quan, LÙ no tích luỹ vốn kinh nghiệm. Mặt khác, bất cứ một xã hội nào cũng chỉ tồn tại được nếu các thành viên của xã hội đó tiếp nhận được những kinh nghiệm mà loài ngưòi đã tích luỹ, bao gồm những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, tư tưỏng, giá trị đạo đức, tiêu chuẩn hành vi. Giáo dục là phạm trù xã hội chỉ có ỏ con ngưòi, vì ở động vật những hành vi của chúng mang tính bản năng và được lưu giữ trong hệ thống gen.
Những kinh nghiệm mà loài ngưòi tích luỹ được trong quá trình phát triển của lịch sử được lưu giữ ỏ nền văn hoá nhân loại, được tiếp nốì qua các thế hệ. Điều kiện cơ bản để xã hội loài người tồn tại và phát triển là đảm bảo được cơ chế di truyền và cơ chế di sản —chính giáo dục đảm bảo được cơ chế thứ hai. Như vậy, giáo dục được hiểu như là quá trình thống nhất của sự hình thành tinh thần và 9 thể chất của mỗi cá nhân trong xã hội. Với cách hiểu này, giáo dục đóng vai trò như một mặt không thể tách ròi của cuộc song con ngươi, cua xã hội, nó là một hiện tượng của xã hội.
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, thê hệ trước không ngừng truyền lại kinh nghiệm cho thế hệ sau, thê hẹ sau lĩnh hội những kinh nghiệm đó để tham gia vào cuộc sông lao động và các hoạt động xã hội nhằm duy trì và phát triên xã hội loài người; chính sự truyền thụ và lĩnh hội đó gọi là giao dục, như vậy giáo dục là một hiện tượng của xã hội thê hiẹn ơ việc truyên đạt những kinh nghiệm mà loài người đã tích luy được từ thê hệ này sang thê hệ khác. Tuy nhiên, thế hệ sau khong phai chi lĩnh hội toàn bộ những kinh nghiệm của thê hệ trước đê lại mà còn bổ sung, làm phong phú thêm những kinh nghiẹm cua loài người —đó là quy luật của sự tiến bộ xã hội. Trong quá trình tiên hoá nhân loại, giáo dục xuất hiện cùng vơi sự xuât hiện của loài người, khi con người có quan hệ với tự nhiên bằng công cụ và phương tiện lao động thì nhu cầu vê sự truyên đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm của thê hệ trước cho thê hệ sau mới xuâ^t hiện. Giáo dục như là một phương thức cua xã hội đảm bảo việc kê thừa văn hoá, phát triển nhân cách.
Trong thời kì sơ khai của xã hội loài người, giáo dục diên ra trực tiếp ngay trong quá trình lao động sản xuất, con người vừa làm vừa truyền lại cho nhau cách làm, cách chế tạo công cụ lao động, các cách xử sự trong các môi quan hệ xã hội, các chuân mực đạo đức. Các nhà khoa học nghiên cứu việc xã hội hoá trẻ em trong thòi kì nguyên thuỷ cho rằng: giáo dục trong thời kì này đan quyện trong hệ thống hoạt động sản xuất xã hội. Chức năng của dạy học, giáo dục nhằm chuyển tải văn hoá từ thê hệ trước cho thê hệ sau được thực hiện do tất cả những người lớn 10 và được thực hiện trực tiếp trong quá trình giao tiếp với trẻ em. Việc mở rộng giổi hạn giao tiếp cũng như phát triển ngôn ngữ và văn hoá dẫn đến tăng lượng thông tin và kinh nghiệm cần phải chuyển tải cho thế hệ sau, nhưng khả năng thực hiện lại bị hạn chế.
Điều này dẫn đến hình thành cơ chế xã hội phải có sự chuyên trách thực hiện việc tích luỹ và truyền bá tri thức. Sự xuất hiện tư hữu, chia gia đình ra như một cộng đồng kinh tế dẫn đến vai trò giáo dục không phải chỉ là của công xã mà chủ yếu là ỏ gia đình. Vào thòi kì cổ đại, một số nhà tư tưởng nhận thức rằng, sự phồn vinh về vật chất của các công dân riêng biệt và của gia đình phụ thuộc vào sức mạnh của quốc gia, giáo dục được truyền đạt không chỉ ỏ gia đình mà ỏ xã hội. Thòi kì Hy Lạp cổ đại, nhà triết học Platón cho rằng, con cái của giai cấp cầm quyền phải nhận được sự giáo dục trong các cơ quan giáo dục của nhà nưốc và cần phải giáo dục trẻ em ngay từ khi mới ra đòi: f ■ ' o ;•••’ ' ;< --i '■ti'-víp (T—i vóp eñe trưctnsr 71ôi trú và sống trong điều kiện khắc nghiệt, vì mục đích chính của giáo dục là hình thành những người lính mạnh mẽ, có kỉ luật để bảo vệ các chủ nô.
Nhìn chung nhiều quốc gia cổ đại có nền giáo dục như vậy. Cùng với việc hình thành chũ viết dẫn tới không chỉ làm thay đổi trong phương pháp tích luỹ, gìn giữ và chuyển tải tri thức, mà còn làm thay đổi nội dung, phương pháp giáo dục, dạy học. Khi quá trình sản xuất ngày càng phức tạp hơn, cùng với sự phức tạp của cuộc sông xã hội, của cơ cấu tổ chức nhà nước đã đặt ra yêu cầu cao hơn ở những người được giáo dục, đòi hỏi việc tiếp thu, luyện tập công phu hơn, do đó việc truyền thụ diễn ra một cách có tổ chức và được chuẩn bị trước, dẫn đến việc chuyển từ dạy học cá nhân sang dạy học tập thể 11 trong các nhà trường. Sự ra đòi của nhà trường như mọt cơ quan chuyên biệt đam nhận việc giáo dục đã cho phép chuyên tai những thông tin cùng một lúc cho nhiều ngưòi, làm cho đại đa so có thê tiêp thu được kiên thức, nâng cao hiệu qua giao dục.
Nửa sau của thế kỉ XX có sự bùng nổ về giáo dục ỏ trẻ em, thanh niên, người lốn, cùng với sự thay đổi về máy moc cơ khi, xuât hiện tự động hoá, sự phát triển của công nghệ đã làm thay đôi lao động của con ngưòi trong sản xuất, giáo dục như là điêu kiện cần thiết để tái sản xuất sức lao động xã hội. Ngày nay, giao dục trơ thành một hoạt đông được tổ chức đạc biệt, thiêt kê theo một kế hoạch chặt chẽ có phương pháp, phương tiện hiện đại, góp phần tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Đạo đưc, tn tuệ, khọa học, kĩ thuật, văn hoá tinh thân và tiêm năng kinh tê cua bất cứ xã hội nào đều phụ thuộc vào mức độ phát triển của giáo dục. Giao dục được thê hiện ỏ một sô" tính chất, nó là một hiện tượng phổ biên và vĩnh hằng, tức là giáo dục chỉ có ở xã hội loài người, nó là một phần không thể tách ròi của đời sốhg xã hội, giao dục có ơ mọi thòi đại, mọi thiết chế xã hội khác nhau, nói một cách khác, giáo dục xuất hiện cùng với sự xuất hiện của xã hội và nó mất đi khi xã hội không tồn tại, là điều kiện không thê thiêu được cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân và xã hội loài người.
Như vậy, giáo dục tồn tại cùng với sự tồn tại của xã hội loài người, là con đường đặc trưng cơ bản để loài người tồn tại và phát triển. Giáo dục là một hoạt động gắn liền với tiến trình đi lên của xã hội, ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử đểu có nền giáo dục tương ứng, khi xã hội chuyển từ hình thái kinh tế —xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác thì toàn bộ hệ thông giáo dục tương ứng cũng biến đổi theo. Giáo dục chịu sự quy định 12 của xã hội, nó phản ánh trình độ phát triển kinh tế —xã hội và đáp ứng các yêu cầu kinh tê —xã hội trong những điều kiện cụ thể. Giáo dục luôn biến đổi trong quá trình phát triển của lịch sử loài ngưồi, không có một nền giáo dục rập khuôn cho mọi hình thái kinh tê —xã hội, cho mọi giai đoạn của mỗi hình thái kinh tế - xã hội cũng như cho mọi quốc gia, chính vì vậy giáo dục mang tính lịch sử.
Ở mỗi thòi kì lịch sử khác nhau thì giáo dục khác nhau về mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục. Các chính sách giáo dục luôn được hoàn thiện dưới ảnh hưỏng của những kinh nghiệm và các kết quả nghiên cứu. Giáo dục mang tính giai cấp, đó là sự khẳng định của rất nhiều nhà giáo dục hiện nay. Tính chất giai cấp của giáo dục thể hiện trong các chính sách giáo dục chính thống được xây dựng trên cơ sở tư tưởng của nhà nước cầm quyền, nó khẳng định giáo dục không đứng ngoài chính sách và quan điểm của nhà nước, điều đó được toàn xã hội chấp nhận.
Giáo dục được sử dụng như một cong cụ cua giai cáp cám quyên nhăm duy trì lọi ích cua giai cấp mình, những lợi ích này có thể phù hợp thiểu số người trong xã hội hoặc với đa số các tầng lóp trong xã hội hoặc với lợi ích chung của toàn xã hội. Chính vì vậy mà trong xã hội có giai cấp đôi kháng, giáo dục là đặc quyền đặc lợi của giai cấp thống trị. Trong xã hội không có giai cấp đôi kháng, giáo dục hướng tới sự công bằng. Tính giai cấp quy định mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục,.
Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới đang hướng tới sự hoà hợp về lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp, hưống tới một nền giáo dục bình đẳng cho mọi người. ơ Việt Nam, mục đích của Nhà nước ta là hướng tới xoá bỏ áp bức bóc lột, từ đó hướng tới sự bình đẳng, công bằng trong giáo dục. Khi chuyển sang cơ chế thị trưòng, bên cạnh những 13 \ 5Ơk&n van c° những mặt trái khó tránh được, Nhà ., a J0 ^an£ đưa ra những chính sách đảm bảo công bằng trong giáo dục như: Mọi cong dân đều có quyền tiếp cận hệ thông giáo dục. „ Đam bao cho những học sinh, sinh viên có năng khiếu, ai nang tiep tục được đào tạo lên cao bất kể điều kiện kinh tế, hoàn cảnh, giới tính, dân tộc“ tôn giáo,.
Tien hanh xoa mù chữ, phổ cập giáo dục. , A * 0 ? m®m dẻo các loại hình đào tạo, các loại hình g p n am tạo cơ hội học tập cho mọi tầng lớp nhân dân. KHÁI QUÁT VỂ GIÁO DỤC HỌC 1. Sự ra đời và phát triển của Giáo dục học _ ^ 01 con nểươi băng kinh nghiệm của mình cũng có đươc 5 ^ ^ ưc n^^t định trong lĩnh vưc giáo dục.