Giáo trình Động vật học của tác giả Lê Trọng Sơn - Đại học Huế xuất bản năm 2006

Giáo trình Động vật học của tác giả Lê Trọng Sơn, Đại học Huế cung cấp toàn diện kiến thức cơ bản, hiện đại về hình thái, sinh thái và tiến hóa của động vật.

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Động vật học

Tác giả

Lê Trọng Sơn

Thể loại

Giáo trình

2006

501
0
0

Phí lưu trữ

135 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giáo trình Động vật học của tác giả Lê Trọng Sơn

Giáo trình Động vật học do tác giả Lê Trọng Sơn biên soạn tại Đại học Huế xuất bản năm 2006. Đây là tài liệu đào tạo chuyên ngành sinh học mang giá trị học thuật cao. Công trình phản ánh bước chuyển mình của khoa học động vật trong giai đoạn mới. Nhiều khám phá khoa học làm thay đổi các góc nhìn truyền thống. Do đó, tác phẩm hướng đến chuẩn mực hiện đại và khoa học. Văn bản cung cấp bức tranh bao quát về thế giới sinh vật đa dạng. Tài liệu trình bày từ cấu tạo tế bào đến các quy luật phát sinh loài. Nguồn tư liệu có sự kế thừa thành quả nghiên cứu từ nhiều chuyên gia đầu ngành. Tiêu biểu là công trình của Giáo sư Thái Trần Bái và Giáo sư Lê Vũ Khôi. Giáo trình xác định rõ nhiệm vụ của ngành học trong việc phục vụ con người. Toàn bộ nội dung tập trung vào mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường sống. Tác phẩm thúc đẩy tinh thần học tập độc lập ở sinh viên. Mỗi chương mục mở ra những nhận thức mới về giới tự nhiên. Sinh viên tiếp cận kiến thức từ cơ bản đến nâng cao một cách thuận lợi. Tài liệu góp phần định hình tư duy nghiên cứu cho thế hệ trẻ.

1.1. Bối cảnh ra đời của giáo trình Động vật học Đại học Huế

Đầu thế kỷ 21, ngành khoa học sinh học ghi nhận nhiều bước tiến nhảy vọt. Các phương pháp thực nghiệm phát hiện thêm nhiều loài mới. Dữ liệu sinh học phân tử làm sáng tỏ quan hệ phát sinh loài. Những giáo trình cũ dần bộc lộ nhiều điểm hạn chế về dữ liệu. Đại học Huế nhận thức rõ yêu cầu cấp bách này. Tác giả Lê Trọng Sơn cùng đồng nghiệp đã nỗ lực biên soạn tài liệu mới. Mục tiêu trọng tâm là hiện đại hóa khối kiến thức cho người học. Giáo trình đáp ứng chương trình đào tạo tín chỉ khắt khe. Văn bản cung cấp tài liệu chính quy cho giảng viên và sinh viên ngành sinh học. Sách hoàn thành vào năm 2006, tạo nên bước tiến đáng kể trong hệ thống giáo trình đại học miền Trung.

1.2. Mục tiêu đào tạo và đối tượng thụ hưởng tác phẩm

Tác phẩm hướng đến đối tượng chính là sinh viên các ngành sư phạm sinh và sinh học ứng dụng. Giáo trình tập trung bồi dưỡng năng lực tư duy khoa học độc lập. Người học không chỉ tiếp thu lý thuyết thụ động mà còn được khơi gợi niềm đam mê khám phá tự nhiên. Sách đóng vai trò cẩm nang nền tảng cho các học viên cao học và nhà nghiên cứu trẻ. Cán bộ bảo tồn thiên nhiên cũng tìm thấy nhiều chỉ dẫn sinh thái hữu ích. Tài liệu trang bị kiến thức phân loại động vật từ cấp độ ngành đến loài. Sinh viên được rèn luyện phương pháp quan sát hình thái và phân tích chức năng cơ quan. Tinh thần trách nhiệm với môi trường sống được lồng ghép xuyên suốt từng bài giảng chuyên sâu.

II. Phân tích nội dung cốt lõi của giáo trình Động vật học

Giáo trình giải quyết bài toán phức tạp trong phân loại học và cây phát sinh giới Động vật. Tác giả Lê Trọng Sơn phân tích sâu sắc các quan điểm tiến hóa từ hình thái đến phân tử. Trọng tâm nghiên cứu nằm ở sự tiến hóa của xoang cơ thể. Thể xoang đóng vai trò bộ xương nước hỗ trợ vận động cho sinh vật. Giáo trình chỉ rõ quá trình hình thành xoang cơ thể diễn ra ít nhất ba lần độc lập. Hiện tượng này xuất hiện ở động vật có xoang giả, động vật có miệng nguyên sinh và miệng thứ sinh. Tuy nhiên, sự xuất hiện hoặc tiêu giảm thể xoang diễn ra rất linh hoạt. Điển hình là ngành Giun đốt có xoang phát triển mạnh, nhưng đỉa lại bị tiêu giảm. Hiện tượng khoảng trống giữa thành ruột và thành cơ thể phản ánh tính thích nghi nhiều hơn là bậc thang tiến hóa. Ngoài ra, việc xác định vị trí của Giun tròn và Giun cước trên cây phát sinh luôn gây tranh cãi. Kết quả phân tích phân tử và lớp cuticun xếp chúng gần với Chân khớp hơn. Nhóm động vật lột xác Ecdysozoa từ đó được làm sáng tỏ.

2.1. Tiến hóa xoang cơ thể và vấn đề phân loại sinh học

Sự hình thành thể xoang là một dấu mốc tiến hóa quan trọng của giới Động vật. Xoang cơ thể chứa dịch lỏng giúp vận chuyển chất dinh dưỡng và bài tiết. Nó bảo vệ các cơ quan nội tạng khỏi va đập cơ học từ bên ngoài. Tuy nhiên, nguồn gốc thể xoang không bắt nguồn từ một tổ tiên chung duy nhất. Động vật có xoang giả hình thành khoang rỗng trực tiếp từ xoang phôi ban đầu. Ngược lại, động vật miệng nguyên sinh tách xoang từ lá phôi giữa. Động vật miệng thứ sinh lại tạo xoang từ phần lõm của vách ruột nguyên thủy. Sự tiêu giảm thể xoang ở một số loài giun ký sinh cho thấy áp lực chọn lọc tự nhiên. Các dữ liệu này giúp người học hiểu rõ tính linh hoạt của cấu trúc cơ thể sinh vật.

2.2. Tranh luận về vị trí phân loại của nhóm Ecdysozoa

Quan niệm phân loại truyền thống xếp giun tròn gần với các nhóm giun giả xoang khác. Tuy nhiên, sinh học phân tử hiện đại đem lại những bằng chứng đối lập. So sánh trình tự mã di truyền chứng minh giun tròn có quan hệ họ hàng gần gũi với ngành Chân khớp. Cả hai nhóm sinh vật này đều sở hữu lớp vỏ cuticun giàu protein bên ngoài cơ thể. Chúng bắt buộc phải trải qua quá trình lột xác định kỳ để tăng trưởng kích thước. Nhóm động vật lột xác Ecdysozoa vì thế nhận được sự đồng thuận rộng rãi trong giới phân loại. Giáo trình cập nhật chi tiết phát hiện này vào hệ thống lý thuyết. Sự đổi mới quan điểm giúp sinh viên tiếp cận chuẩn kiến thức phát sinh chủng loại đương đại.

III. Phương pháp giảng dạy trong giáo trình Động vật học Huế

Tác giả Lê Trọng Sơn đề xuất phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm tối ưu hóa việc dạy và học. Giáo trình kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính cơ bản, tính hiện đại và tính thực tiễn. Về tính cơ bản, tài liệu lựa chọn các đại diện sinh vật tiêu biểu cho từng ngành và lớp. Nội dung bảo đảm sự cân bằng giữa nét đặc thù của loài và tính phổ quát của nhóm phân loại. Về tính hiện đại, giáo trình tích hợp các kết quả nghiên cứu mới nhất từ sinh học phân tử. Về tính thực tiễn, sách gắn liền lý thuyết giải phẫu với giá trị ứng dụng nông nghiệp và y tế. Về mặt sư phạm, giáo trình đặc biệt coi trọng năng lực tự học của sinh viên. Hệ thống hình vẽ minh họa được thiết kế đơn giản nhưng đạt độ chính xác cao. Cách trình bày trực quan này giúp người học ghi nhớ lâu dài các cấu trúc giải phẫu phức tạp. Mỗi bài học đều gắn kết quy luật tiến hóa với quan điểm sinh thái học. Phương pháp này rèn luyện tư duy phân tích khoa học cho người học.

3.1. Nguyên tắc kết hợp giữa cái chung và cái riêng biệt

Nguyên tắc biên soạn chú trọng việc xây dựng kiến thức từ đại thể đến chi tiết. Cái chung được khái quát qua những đặc điểm giải phẫu đặc trưng của từng ngành. Chẳng hạn, ngành Hàm tơ được mô tả qua cấu trúc ba phần và thể xoang ba ngăn. Cái riêng được thể hiện ở cấu tạo thích nghi của từng giống loài cụ thể. Lớp biểu mô nhiều tầng và dải cơ vân hỗ trợ tập tính bơi lội săn mồi. Bằng cách so sánh đối chiếu, người học hiểu rõ nguyên lý sinh lý học động vật. Phương pháp này ngăn ngừa tình trạng học vẹt các dữ liệu phân loại rời rạc. Sinh viên tự rút ra quy luật sinh học thông qua các mẫu vật điển hình.

3.2. Phương thức rèn luyện tính tự học và đạo đức nghiên cứu

Tự học là năng lực cốt lõi mà giáo trình hướng tới rèn luyện cho sinh viên. Mỗi chương sách đặt ra những câu hỏi gợi mở để người học tự tra cứu thêm. Tài liệu khuyến khích tinh thần tôn trọng sự thật khách quan trong nghiên cứu tự nhiên. Đạo đức khoa học thể hiện qua thái độ trân trọng sinh mệnh của các loài mẫu vật. Người học được hướng dẫn quy trình thu thập mẫu chuẩn xác mà không gây hại hệ sinh thái. Tình yêu thiên nhiên được nuôi dưỡng qua việc tìm hiểu sự thích nghi kỳ diệu của sinh vật. Giảng viên đóng vai trò định hướng, còn sinh viên tự xây dựng tri thức qua thực nghiệm. Nhờ đó, người học hình thành bản lĩnh học thuật vững vàng và nhân văn.

IV. Kết luận và giá trị thực tiễn của giáo trình Động vật học

Giáo trình Động vật học của tác giả Lê Trọng Sơn khẳng định giá trị học thuật bền vững theo thời gian. Tác phẩm không chỉ tổng kết lý thuyết kinh điển mà còn định hướng ứng dụng thực tế phong phú. Việc nắm vững quy luật sinh học tạo tiền đề cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam. Sinh viên ứng dụng tri thức giải phẫu và sinh thái vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp, thủy sản. Nhận thức đúng về các nhóm giun tròn, côn trùng giúp phát triển giải pháp phòng trừ sâu bệnh hại mùa màng hiệu quả. Kiến thức về động vật biển như ngành Hàm tơ hỗ trợ đánh giá chất lượng môi trường nước và chuỗi thức ăn đại dương. Tác phẩm hoàn thành xuất sắc vai trò kết nối lý thuyết viện hàn lâm với nhu cầu thực tiễn của đời sống xã hội. Cuốn sách là tài liệu tham khảo mẫu mực cho các thế hệ nghiên cứu sinh học tại Đại học Huế cũng như cả nước. Công trình đã và đang tiếp tục truyền cảm hứng cho nhiều nhà khoa học tương lai.

4.1. Đóng góp cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học

Việt Nam sở hữu hệ sinh thái phong phú với mức độ đặc hữu cao. Giáo trình cung cấp cơ sở khoa học để nhận diện chính xác các loài động vật trong tự nhiên. Việc phân loại chi tiết giúp xác định các loài quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Các cán bộ bảo tồn áp dụng kiến thức sinh thái học để quy hoạch vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển. Tài liệu phân tích mối quan hệ giữa các sinh vật trong lưới thức ăn tự nhiên. Từ đó, các nhà khoa học đề xuất giải pháp duy trì trạng thái cân bằng sinh thái bền vững. Tri thức từ cuốn sách đóng góp thiết thực cho nỗ lực gìn giữ tài nguyên sinh vật quốc gia.

4.2. Ứng dụng trong phát triển kinh tế và nghiên cứu khoa học

Hiểu biết sâu sắc về động vật học mở ra tiềm năng kinh tế to lớn. Trong nông nghiệp, việc nhận biết vòng đời của côn trùng và giun tròn giúp kiểm soát dịch bệnh cây trồng hiệu quả. Ngành nuôi trồng thủy sản khai thác tri thức giải phẫu và dinh dưỡng của động vật không xương sống để nâng cao năng suất. Trong y dược, nhiều hợp chất sinh học từ động vật được nghiên cứu làm dược liệu chữa bệnh. Giáo trình cung cấp nền tảng vững chắc cho các công trình nghiên cứu công nghệ sinh học hiện đại. Sinh viên tốt nghiệp có thể vận dụng kiến thức linh hoạt trong các viện kiểm nghiệm và doanh nghiệp công nghệ sinh học. Giá trị ứng dụng thực tiễn là minh chứng rõ nhất cho chất lượng đào tạo của giáo trình.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

31/10/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho thế hệ sinh sản vô tính. Thể vô tính phân chia nguyên nhiễm nhiều lần và giảm nhiễm một lần cuối để hình thành nên thể hữu tính (gamont) có nhiễm sắc thể đơn bội (n). Như vậy ở loài này có 2 thế hệ mẹ và con khác nhau về cách sinh sản, được lặp đi lặp lại đều đặn và được gọi là hiện tượng xen kẽ thế hệ (metagenez). Trùng có lỗ có ý nghĩa thực tiễn khá lớn.

Phần lớn chúng sống ở biển, khi chết đi vỏ của chúng lắng xuống đáy biển (1 gam cát có thể có tới 50. Khi có các cuộc tạo sơn, chúng tham gia tạo nên các nền đất đá trên lục địa với diện tích rất rộng. Các lớp đá vôi và sa thạch xanh là vỏ của trùng lỗ (ví dụ đá vôi tạo nên cao nguyên Sahara hoàn toàn bằng vỏ của giống Nummulites và vùng cao nguyên này xưa kia là đáy biển). Trùng có lỗ là những động vật xuất hiện rất sớm (từ kỷ Cambri và Silua).

Mỗi thời kỳ địa chất nhất định thường được đặc trưng bởi một thành phần trùng lỗ nhất định, do vậy dựa vào hóa thạch của chúng để chúng ta xác định tuổi địa tầng. Ví dụ giống Nummulites đặc trưng cho kỷ Đệ tam; họ Fusulinidae chỉ thị cho các lớp đất thuộc kỷ Thạch thán và Pecmi. Cũng căn cứ vào tính chất tương tự, người ta còn dùng chúng để thăm dò những nơi có dầu mỏ vì lớp đất chứa dầu mỏ thường tương ứng với một số loài trùng lỗ xác định (hình 1.9 Một số Trùng có lỗ (theo Baly & Calvez) A. Vỏ của Rheophax; B.

Vỏ của Nontion; D. Cắt dọc vỏ trùng có lỗ Ở Việt Nam khá phong phú về thành phần loài trùng có lỗ. Đến nay đã xác định được 290 loài trùng có lỗ. Vịnh Bắc Bộ có họ phổ biến là Textalriadae, Miliolidae, Lagenidae.

và các loài phổ biến sống nổi ở vùng cửa sông là Globerina bulloides, 16 G. eggeri, Hastigerrina siphonifera., còn các loài sống đáy phân bố tập trung theo 4 vùng (cửa, giữa, Tây và Bắc của vịnh) gồm các loài: Miliammina agglutinans, Cribrobigeneria textularoides, Pseudorotalia indopacifera. Ngành Trùng phóng xạ (Radiozoa) Sống ở vùng biển có độ sâu từ 0 -5.000m, phong phú ở các vùng nông của biển ấm, một số lớn các loài đã hóa thạch.1 Cấu tạo cơ thể Trùng phóng xạ có cơ thể hình cầu, hình khối, kích thước dao động từ 40 - 50µ m đến 1mm. Đặc trưng về cấu tạo là có nang trung tâm: Đó là một màng được phân hóa từ một phần của tế bào chất, chia tế bào chất thành 2 phần là phần trong nang và phần ngoài nang (hai phần này không tương ứng với nội chất và ngoại chất).

Thành nang trung tâm có nhiều lỗ thủng nhỏ, qua đó nguyên sinh chất trong nang thông với ngoài nang. Trong nguyên sinh chất của trùng phóng xạ còn gặp một số lớn các tảo đơn bào (thuộc bộ Dinoflagellata) sống cộng sinh. Chỉ gặp ở các trùng Phóng xạ sống ở vùng biển nông, nơi có ánh sáng chiếu tới. Chân giả của trùng phóng xạ gồm nhiều sợi, xuyên qua thành nang trung tâm tỏa ra ngoài.

Đó là phần được hình thành từ các phần tế bào chất quánh hơn nằm phía ngoài. Chân giả có thể liên kết và hình thành các nhánh để tăng hiệu quả bắt mồi. Phần lớn trùng phóng xạ có vỏ bọc đều đặn bao lấy tế bào chất hay hình thành nhiều gai xương tỏa ra xung quanh. Vỏ này có cấu tạo bằng SiO2 hay SrSO4 vừa làm cho vỏ bền, chắc, vừa làm cho vỏ nhẹ, giúp cho con vật nổi trong nước.

Do vỏ có hình dạng rất khác nhau và có thể liên kết với nhau, tạo nên những hình thù rất kỳ dị và rất đẹp. Tuy vậy vẫn có một số loài trùng phóng xạ không có bộ xương (trần), sống tập đoàn. Nhiều loài trùng phóng xạ sinh sản vô tính bằng cách chia đôi: Bộ xương của cá thể mẹ hoặc chia đôi hay ở lại trên một cá thể, cá thể kia sẽ hình thành nên vỏ mới. Khi phân đôi, nhân trong nang trung tâm có số lượng nhiễm sắc thể rất lớn do đặc điểm đa bội của nhân (có thể có tới trên 1.000 nhiễm sắc thể).

Một số loài trong bộ Acantharia có khả năng sinh sản hữu tính với các giao tử có 2 roi.2 Phân loại và tầm quan trọng Có khoảng 7.000 loài, chia thành 5 bộ: 3.1 Bộ Acantharia: Có bộ xương bằng SrSO4, với 20 gai phóng xạ xếp thành 5 vành. Ở gốc gai có sợi cơ điều chỉnh giúp cho con vật chuyển dịch vị trí trong nước. Đại diện có loài Acanthometra elastica (hình 1.10 Cấu tạo cơ thể trùng phóng xạ Acanthometra elastica (từ Đặng Ngọc Thanh và Thái Trần Bái) 3.2 Bộ Spumellaria: Có bộ xương bằng SiO2, có thể có các gai xương hay kết lại thành bộ xương. Đại diện có loài Thalassophyta pelagica 3.3 Bộ Nasselaria: Có bộ xương SiO2, đa dạng, chủ yếu gồm từng nhóm 4 xương gắn với nhau, kết thành bộ xương kỳ dị.

Bao trung tâm không phải hình cầu. Đại diện có loài Medussetta craspedota.4 Bộ Phaeodaria: Có bộ xương SiO2, bao trung tâm có 3 lỗ lớn. Có thể xám, nơi tập trung chất tiết và giữ trữ thức ăn. Sống ở biển sâu.5 Bộ Sticholonchea: Cơ thể đối xứng 2 bên với 18 - 20 gai xương phóng xạ.

Chỉ mới phát hiện một giống là Sticholonche. Nhờ có bộ xương cứng, vỏ cơ thể trùng phóng xạ đã tạo nên nhiều loại đá có ý nghĩa công nghiệp dùng để đánh nhẵn mặt kim loại. Ngoài ra vỏ của trùng phóng xạ cũng là hóa thạch dùng để xác định tuổi địa tầng. Ngành Trùng mặt trời (Heliozoa) Chủ yếu sống ở nước ngọt như các ao, hồ, đầm.

Nhìn bên ngoài thấy hình dạng cơ thể giống với trùng phóng xạ, tuy nhiên có các sai khác quan trọng sau: Không có nang trung tâm. Có thể có một hay nhiều nhân và có các không bào co bóp. Chân giả tỏa ra xung quanh, không bắt nhánh với nhau, giữa mỗi chân giả có trụ đặc, bọc xung quanh là nguyên sinh chất. Chân giả có thể kéo dài hay rụt ngắn lại hoặc chụm vào nhau nên chúng bắt mồi rất hiệu quả.

Có thể gặp một số loài sống ở biển (hình 1. Ngành Động vật cổ (Archaezoa) Thuật ngữ này được đề nghị vào những năm 1980 dùng để chỉ tất cả các nguyên sinh vật có thể xuất hiện trước khi tế bào có ty thể. Phân biệt một số nhóm Archaezoa như sau: 5.1 Trichomonadina Nhóm động vật nguyên sinh này trước đây được xếp vào phân lớp Trùng roi động vật (Zoomastigina) thuộc lớp Trùng roi (Flagellata). Ngày nay, dựa vào các lập luận trên mà xếp chúng vào nhóm Trichomonadina thuộc Archaezoa.

Ký sinh ở động vật, có nhiều roi, đôi khi có trụ gai nâng đỡ (axotyl). Không có ty thể nhưng có hydrogenosom, có thể là dạng biến đổi của ty thể. Có nhiều loài khác nhau (hình 1. Đại diện: Giống Trichomonas có 4 roi (3 hướng về phía trước, 1 hướng về phía sau hình thành màng uốn).

Có 2 loài ký sinh ở người là Tr. hominis và Tr.2 Diplomonadina Ký sinh trong cơ thể động vật, lúc đầu ở ống tiêu hóa sau đó lan sang các cơ quan khác. Cấu tạo cơ thể của nhóm động vật này giống như 2 cơ thể của Trichomonas xếp đối xứng, chúng không có ty thể, không có thể hạt (plastid) và có bộ xương tế bào đơn giản (hình 2. 19 Đại diện: loài Lambia intestinalis ký sinh trong ống dẫn mật, ruột non và tá tràng của người.

Cơ thể có 8 roi và 2 nhân, đối xứng hai bên, mặt bụng biến thành giác bám, bám vào thành ruột. Ra khỏi cơ thể chúng mất roi, biến thành bào xác và có thể lây bệnh cho người khác bằng con đường ăn uống. Ký sinh gây bệnh ở người, gây ra các cơn đau bụng quằn quại, có hiện tượng đi lỏng nặng (ở người còn có loài Giardia intestinalis) (hình 2.3 Hypermastigida Có khoảng 200 loài sống cộng sinh trong ruột mối và gián. Cơ thể không có ty thể nhưng có hydrogenosom, thường lớn tới vài trăm μm, có hàng nghìn roi, có cấu tạo phức tạp và thường có nhiều nhân.

Chúng có khả năng tiết men xenlulaza, biến các xenluloz thành các hydratcacbon đơn giản để có thể hấp thụ. Số lượng ký sinh trong vật chủ là rất lớn. Chẳng hạn trong ruột mối chỉ riêng một loài Trichonympha campanula đã chiếm tới 1/3 sinh khối của cơ thể mối (hình 1. Hiện nay nhiều nhà sinh vật học chấp nhận Động vật cổ (Archaezoa) là một taxon xuất hiện sớm nhất nhưng hình như vị trí của chúng còn phải thay đổi.

Quan hệ giữa các nhóm trong Archaezoa còn chưa rõ ràng và hiện tượng thiếu ty thể có thể là sự biến đổi có liên quan đến đời sống ký sinh của chúng, kể cả các nhóm xa nhau về nguồn gốc. Ngành Trùng roi động vật (Euglenozoa) 6.1 Đặc điểm cấu tạo, sinh lý 20 Là nhóm động vật nguyên sinh lớn, có khoảng 6.000 loài, sống phổ biến trong nước, một số sống ký sinh. Trước đây người ta chia nhóm động vật này thành 2 nhóm là Trùng roi thực vật (Phytomastigina) và Trùng roi động vật (Zoomastigina). Trùng roi vận chuyển bằng roi, số lượng roi không nhiều (số lượng của roi thay đổi từ 1 - 8 cái, thường là 1 cái).

Nhiều nhóm trùng roi vừa có khả năng dinh dưỡng như động vật (dị dưỡng) vừa có khả năng dinh dưỡng như thực vật (tự dưỡng), một số có thể sống thành tập đoàn hình cầu. Hình dạng trùng roi rất sai khác nhau: hình trứng, hình búp chỉ, hình chai, hình cầu hay có hình thù kỳ dị. Cơ thể trùng roi có hình dạng ổn định hơn trùng chân giả nhờ vào lớp tế bào chất ngoài cùng (ngoại chất) phân hóa thành màng phim (pelliculla), một số còn có lớp che ngoài, hoặc một lớp keo (Volvox), lớp sừng hay lớp xenluloz như ở tế bào thực vật (Dinoflagellata). Roi (flagellum) của trùng roi là phần chuyên hóa của tế bào làm nhiệm vụ vận chuyển.

Cấu tạo hiển vi của roi ở trùng roi giống nhau ở tất cả các loài và giống với tế bào có roi của động vật cao hay lông bơi của trùng lông bơi. Roi có 2 phần, phần ngoài (hay còn gọi là phần ngọn) di chuyển xoắn ốc làm cho cơ thể chuyển động như một mũi khoan, còn phần gốc nằm trong ngoại chất. Dọc roi có 9 chùm sợi, xếp đều theo vòng bao ngoài và một chùm sợi nằm ở phần trung tâm. Phần ngọn roi mỗi chùm sợi có 2 sợi đơn, còn ở phần gốc roi mỗi chùm sợi có 3 sợi đơn, các sợi này chính là cơ quan vận động của roi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Lê Trọng Sơn (2006), Giáo trình Động vật học, Giáo trình, Đại học Huế, Huế.
APA 7
Lê, T. S. (2006). Giáo trình Động vật học [Giáo trình, Đại học Huế]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/giao-trinh-dong-vat-hoc-le-trong-son-dai-hoc-hue-2006/9443645468
IEEE
T. S. Lê, "Giáo trình Động vật học," Giáo trình, Đại học Huế, Huế, 2006. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/giao-trinh-dong-vat-hoc-le-trong-son-dai-hoc-hue-2006/9443645468

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác

Cuốn <strong>Giáo trình Động vật học</strong> của tác giả Lê Trọng Sơn (Đại học Huế, 2006) là tài liệu học thuật toàn diện, hệ thống hóa kiến thức chuyên sâu về hình thái, giải phẫu và phân loại các ngành động vật. Tài liệu mang lại lợi ích thiết thực cho sinh viên và nhà nghiên cứu sinh học, giúp xây dựng nền tảng vững vàng để đánh giá đa dạng sinh học. Người đọc có thể liên hệ kiến thức phân loại với thực địa qua các nghiên cứu về <strong>động vật không xương sống</strong> thủy vực hoặc khảo sát <strong>đa dạng côn trùng nước</strong> ở lưu vực suối. Bên cạnh đó, các biến động sinh thái của <strong>các nhóm động vật đất</strong> cũng cung cấp góc nhìn thực nghiệm sinh động cho các nguyên lý động vật học.