Giáo trình Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, Tập 1 (Đỗ Thị Minh Đức)

Tổng quan về giáo trình

Giáo trình Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, Tập 1 do GS. Đỗ Thị Minh Đức biên soạn, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm ấn hành (mã số 01.5). Tài liệu được thực hiện trong khuôn khổ Dự án đào tạo giáo viên THCS - Loan No 1718 - VIE (SF) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nên vị trí chính của nó trong chương trình đào tạo là học phần Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam dành cho sinh viên ngành Sư phạm Địa lí. Trong lời nói đầu, tác giả nêu rõ giáo trình được phát triển từ cuốn giáo trình đại học Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam (tập 1) in năm 2000 đã tái bản lần thứ ba, với một số phần được bổ sung và một số phần được rút gọn.

Mục tiêu học tập mà tác giả đặt ra được phát biểu trực tiếp trong lời nói đầu: cung cấp cho người đọc "một cách nhìn", đồng thời "bổ sung năng lực tự học hỏi, tìm tòi để hoàn thiện tri thức và kĩ năng bộ môn". Tác giả cũng nêu mục tiêu nghiệp vụ sư phạm: việc giảng dạy môn Địa lí gắn với hình thành ý thức trách nhiệm công dân ở học sinh. Như vậy, học phần hướng tới hai nhóm kết quả: nắm hệ thống tri thức địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, và làm chủ cách trình bày, xử lí tư liệu địa lí phục vụ dạy học.

Về cấu trúc, tập 1 gồm phần nội dung chuyên môn và phần lí luận dạy học. Mục lục cho thấy trình tự: Chương 1 - Đánh giá ý nghĩa kinh tế của vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên; Chương II - Địa lí dân cư; tiếp đó là Địa lí nông - lâm - ngư nghiệp (tr. 112), Địa lí công nghiệp (tr. 147), Địa lí các ngành dịch vụ (tr. 192), và Lí luận dạy học Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam (phần đại cương) (tr. 203), khép lại bằng Tài liệu tham khảo (tr. 204).

Một đặc điểm được tác giả nêu rõ là cách xử lí bảng số liệu, biểu đồ và bản đồ: chúng được chú ý trình bày "trực quan và có hiệu quả", vừa để chuyển tải thông tin, vừa để tạo ra những "ví dụ mẫu" cho đồng nghiệp tham khảo. Cuối mỗi chương đều có câu hỏi và bài thực hành.

Nội dung kiến thức cốt lõi

Các chương và chủ đề chính

Chương 1 - Đánh giá ý nghĩa kinh tế của vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên. Chương mở đầu bằng xác định vị trí địa lí Việt Nam qua bốn điểm cực: cực Bắc 23°23'B (xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, Hà Giang), cực Nam 8°30'B (xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau), cực Tây 102°8'Đ (núi Pulasan, xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, Điện Biên), cực Đông 109°27'Đ (bán đảo Hòn Gốm, Khánh Hoà). Chương trích dẫn Điều 1 Luật Biên giới quốc gia (Quốc hội khoá XI thông qua ngày 17/6/2003) và trình bày hệ thống các vùng biển: lãnh hải 12 hải lí, vùng tiếp giáp lãnh hải 12 hải lí (hợp thành vùng 24 hải lí), vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí, thềm lục địa. Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc (hiệu lực từ 30/6/2004, tỉ lệ 53,23% - 46,77%, đường phân định 21 điểm) được dùng làm dẫn chứng cụ thể.

Phần đánh giá tài nguyên đi theo trật tự: địa hình - khí hậu - nước - đất - sinh vật - khoáng sản. Ở mỗi hợp phần, mạch lập luận đều là "đặc điểm tự nhiên → hệ quả đối với tổ chức lãnh thổ kinh tế". Ví dụ, đặc điểm hơn 3/4 diện tích là đồi núi được nối tiếp bằng phân tích chức năng kinh tế khác nhau của vùng núi (nông - lâm kết hợp, canh tác đất dốc, khai khoáng, thuỷ điện), vùng trung du (công nghiệp năng lượng, vật liệu xây dựng), vùng đồng bằng (công nghiệp sử dụng nhiều lao động, dịch vụ, nông nghiệp thâm canh).

Chương II - Địa lí dân cư. Chương đi từ quy mô và gia tăng dân số, qua cơ cấu tuổi - giới tính, đến cơ cấu và phân bố dân tộc. Các số liệu mốc gồm: dân số 76,3 triệu người (1999) và 83 triệu người (2005); bảng dân số trung bình và tỉ lệ phát triển dân số hằng năm giai đoạn 1951-2005; tỉ suất tử thô giảm từ 12‰ (1965) xuống 6,2‰ (2005); tổng tỉ suất sinh (TFR) giảm từ 5,5 con/phụ nữ (1969-1974) qua 4,85 (1978-1979), 3,80 (1988-1989), 3,1 (1994), 2,3 (1999) còn 1,94 (2005); tỉ số giới tính tăng từ 94,2% (1979) lên 96,4% (1999).

Các chương còn lại theo mục lục - Địa lí nông - lâm - ngư nghiệp, Địa lí công nghiệp, Địa lí các ngành dịch vụ - tiếp nối logic "điều kiện phát triển → cơ cấu ngành → cơ cấu lãnh thổ", trong khi chương Lí luận dạy học Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam (phần đại cương) chuyển từ nội dung chuyên môn sang phương pháp truyền đạt nội dung đó.

Trình tự này thể hiện một logic tiến triển rõ: nguồn lực tự nhiên → nguồn lực dân cư - lao động → các ngành kinh tế → phương pháp dạy học. Người học nắm điều kiện phát triển trước khi phân tích hoạt động kinh tế diễn ra trên điều kiện ấy.

Kiến thức nền tảng được xây dựng

Giáo trình xây dựng vài khung khái niệm được sử dụng lặp lại. Thứ nhất là khung đánh giá tài nguyên từ góc độ tổ chức lãnh thổ: tác giả nêu rõ sẽ "đánh giá khái quát về các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên chủ yếu từ góc độ tổ chức lãnh thổ các ngành và các vùng kinh tế", chứ không mô tả tự nhiên thuần tuý. Thứ hai là khung ba mặt của vị trí địa lí: vị trí địa lí tự nhiên, vị trí địa lí kinh tế - chính trị, và vai trò của vị trí như "một loại nguồn lực đặc biệt".

Thứ ba là các bảng phân loại. Giáo trình phân loại đất đồng bằng (phù sa mới gần 3 triệu ha, đất phèn hơn 2,1 triệu ha, đất mặn gần 1 triệu ha, đất cát ven biển khoảng 500.000 ha) và đất đồi núi theo quá trình feralitic (đất feralit tổng khoảng 16 triệu ha, chia theo đá mẹ: nâu đỏ trên đá macma bazơ khoảng 2 triệu ha, vàng đỏ trên đá biến chất và đá sét trên 6,8 triệu ha, vàng đỏ trên đá macma axit khoảng 4,6 triệu ha, vàng nhạt trên đá cát hơn 2,6 triệu ha), có kèm chú thích đối chiếu với phân loại FAO - UNESCO - WRB. Hệ sinh thái rừng được gộp thành ba nhóm lớn: rừng rậm nhiệt đới, rừng thưa nhiệt đới và xavan, và các hệ sinh thái trên thổ nhưỡng đặc biệt (đá vôi, đất mặn, đất phèn - hệ sinh thái Tràm - Chim ở U Minh). Dân tộc được phân loại theo ba dòng ngôn ngữ - Nam Á, Nam Đảo, Hán - Tạng - với các nhóm Việt - Mường, Môn - Khơ Me, Tày - Thái, Mèo - Dao, Ka Đai, Malayô - Pôlinêdiêng, Hán, Tạng - Miến.

Thứ tư là luận điểm tổng hợp được nêu và chứng minh: "tài nguyên khoáng sản nước ta phong phú về thể loại, nhưng phức tạp về cấu trúc và khả năng sử dụng, hạn chế về tiềm năng" - dẫn chứng bằng con số hơn 3500 mỏ và điểm quặng của hơn 80 loại khoáng sản nhưng mới 300 mỏ của 30 loại được đưa vào thiết kế, khai thác.

Kỹ năng phát triển

Kỹ năng kỹ thuật được rèn qua thao tác với số liệu định lượng có đơn vị rõ ràng: tổng lượng dòng chảy 880 km³/năm trong đó 325 km³ sinh ra trên lãnh thổ (37%), trữ năng thuỷ điện lí thuyết hơn 28 triệu kW tương ứng 250 tỉ kWh/năm và khả năng kĩ thuật khoảng 60 tỉ kWh/năm, tổng lượng phù sa đổ ra biển khoảng 350 triệu tấn/năm (sông Hồng 120 triệu tấn, sông Cửu Long 170 triệu tấn).

Kỹ năng phân tích hình thành qua yêu cầu tìm quan hệ nhân quả và quan hệ không gian - chẳng hạn câu hỏi cuối Chương 1 yêu cầu tìm mối quan hệ giữa phân bố khoáng sản và phân bố công nghiệp, hoặc giải thích vì sao mô hình nông - lâm kết hợp ở miền núi là biện pháp sử dụng đất hợp lí.

Năng lực thực hành gắn với ba dạng bài: xử lí số liệu thống kê để tính cơ cấu phần trăm và lập bảng mới, vẽ biểu đồ cơ cấu, và đọc - đối chiếu bản đồ.

Phương pháp giảng dạy và học tập

Cách tiếp cận sư phạm của giáo trình có thể nhận ra từ chính cấu trúc văn bản. Nội dung lí thuyết luôn được neo vào dữ kiện định lượng và địa danh cụ thể: khi bàn về cháy rừng, tác giả không dừng ở nhận định chung mà dẫn diện tích rừng bị cháy năm 1995 là 7457 ha (Lâm Đồng 1298 ha, Ninh Thuận 1584 ha, Cà Mau 1743 ha), năm 1998 là 19943 ha (Sơn La 3784 ha, Đồng Nai 1106 ha, Kiên Giang 8653 ha, Cà Mau 1210 ha), năm 2002 là 12333,5 ha trong đó đồng bằng sông Cửu Long 10137,1 ha, kèm nguồn Niên giám thống kê.

Hệ thống câu hỏi cuối Chương 1 gồm các dạng: phân tích (đặc điểm vị trí địa lí và hình dáng lãnh thổ; đặc điểm tài nguyên đất; sức ép của dân số lên tài nguyên đất vùng đồng bằng), chứng minh (khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa phân hoá phức tạp; khoáng sản phong phú về chủng loại nhưng hạn chế về tiềm năng), giải thích (vì sao nông - lâm kết hợp là biện pháp hợp lí), và tổng hợp liên hợp phần (mối quan hệ giữa sử dụng hợp lí tài nguyên đất với tài nguyên rừng, khí hậu, nước).

Ba bài thực hành cuối Chương 1 minh hoạ ba phương thức làm việc khác nhau. Bài 1 yêu cầu sưu tầm tài liệu bổ trợ và viết báo cáo ngắn so sánh đặc điểm khí hậu đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ cùng ảnh hưởng tới nông nghiệp - đây là bài tập tra cứu và so sánh vùng. Bài 2 cho bảng "Tài nguyên đất phân theo các vùng năm 2002" (nguồn: Niên giám thống kê 2003, NXB Thống kê, 2004) với các cột đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng, đất chuyên dùng, đất ở, đất chưa sử dụng cho bảy vùng, rồi yêu cầu xử lí số liệu thành cơ cấu phần trăm, lập bảng mới, phân tích và vẽ biểu đồ. Bài 3 cho hai bản đồ - Bản đồ khoáng sản và Bản đồ công nghiệp Việt Nam - và yêu cầu nhận xét đặc điểm phân bố, trữ lượng, rồi tìm mối quan hệ giữa hai lớp thông tin kèm dẫn chứng cụ thể.

Về tự học, tác giả nêu định hướng trực tiếp: phần tài liệu tham khảo "không chỉ gồm các tài liệu mà tác giả đã dựa vào trong quá trình biên soạn, mà còn có cả các tài liệu mà tác giả khuyên bạn đọc tìm hiểu sâu hơn một số vấn đề cụ thể". Một câu hỏi cuối chương cũng yêu cầu người học "đọc thêm sách, báo" rồi viết báo cáo về suy thoái tài nguyên do khai thác không hợp lí - tức là mở rộng ra ngoài phạm vi giáo trình.

Điểm nổi bật và cập nhật

So với bản in năm 2000, tác giả nêu ba loại thay đổi: bổ sung thêm nhiều phần, rút gọn một số phần, và thay thế "những nhận định nào không còn phù hợp" bằng nhận định mới. Có thể thấy dấu vết cập nhật ở các mốc pháp lí và số liệu sau năm 2000: Luật Biên giới quốc gia 2003, Hiệp định Vịnh Bắc Bộ có hiệu lực 30/6/2004, diện tích rừng năm 2003 (11974,6 nghìn ha, trong đó rừng tự nhiên 9873,7 nghìn ha, rừng trồng 2100,9 nghìn ha, độ che phủ 36,3%), bảng tài nguyên đất năm 2002, và các chỉ tiêu dân số năm 2005.

Các vấn đề thời sự được đưa vào phân tích. Giáo trình nêu rằng 63% lượng dòng chảy sông ngòi Việt Nam sinh ra ngoài lãnh thổ - riêng sông Mê Kông chỉ 10%, hệ thống sông Hồng - Thái Bình 68% - từ đó đặt vấn đề sử dụng chung tài nguyên nước với các nước cùng lưu vực, một vấn đề tác giả nhận định "sẽ ngày càng trở nên cấp bách trong thế kỉ XXI". Các dự án thuỷ điện trên dòng chính Mê Kông của Trung Quốc và Lào được nêu cùng hệ quả có thể có ở hạ lưu, với câu hỏi bỏ ngỏ liệu người dân đồng bằng sông Cửu Long, nay "chung sống với lũ", sẽ có lúc phải "chung sống với hạn".

Chuỗi số liệu suy giảm rừng được trình bày thành xu hướng dài hạn: độ che phủ giảm từ 67% (1943) xuống 29% (1991), mất ít nhất 12,6 triệu ha rừng (8 triệu ha ở miền Bắc, 4,6 triệu ha ở miền Nam), riêng các tỉnh miền núi phía Bắc giảm từ 95% xuống 17%; kèm ngưỡng an toàn sinh thái được nêu là 30%. Hình 1 minh hoạ sự suy giảm lớp phủ rừng 1943-1993, dựa theo tài liệu Atlas GIS, 1999.

Liên hệ thực tiễn sản xuất xuất hiện đều: kinh nghiệm "ém phèn" của nông dân đồng bằng sông Cửu Long (cày nông bừa sục, giữ nước liên tục, tháo nước định kì) được chú thích cụ thể; biện pháp xổ phèn ở Đồng Tháp Mười đã chuyển hơn 200 nghìn ha đất hoang hoá và một vụ không ăn chắc thành ruộng hai, ba vụ; nghề nuôi tôm trên cát ở duyên hải Nam Trung Bộ được nêu cùng đánh giá của các nhà khoa học rằng thiệt hại có thể lớn hơn lợi nhuận.

Đối tượng sử dụng giáo trình

Đối tượng chính, theo khuôn khổ dự án, là sinh viên ngành Sư phạm Địa lí đào tạo giáo viên THCS. Tác giả mở rộng phạm vi trong lời nói đầu: cuốn sách "không chỉ phục vụ cho đào tạo giáo viên Địa lí, mà còn là tài liệu tham khảo, tra cứu cho những sinh viên Đại học chuyên ngành địa lí và các chuyên ngành kinh tế - xã hội và cho những ai yêu thích địa lí".

Về kiến thức nền, nội dung giả định người học đã có nền địa lí tự nhiên đại cương: các thuật ngữ như quá trình feralitic, thủy chế, tổng xạ và cân bằng bức xạ, độ pH và thành phần cơ giới đất, phèn tiềm tàng (FeS) và quá trình ôxy hoá tạo axit sunphuric, mỏ gốc và mỏ sa khoáng đều được dùng mà không định nghĩa lại từ đầu. Giáo trình cũng dẫn người đọc sang các tài liệu nền: Thiên nhiên Việt Nam của GS. Lê Bá Thảo (chương VI, NXB KHKT, Hà Nội, 1990) khi bàn về "gờ núi" Trường Sơn Nam; Địa lí tự nhiên Việt Nam (phần đại cương) do Vũ Tự Lập chủ biên (ĐHSP Hà Nội, 1995) khi bàn về đa dạng sinh học; Tiến trình lịch sử Việt Nam của Nguyễn Quang Ngọc (NXB Giáo Dục, 2000) khi bàn về hình thành cộng đồng dân tộc. Kỹ năng đọc bảng thống kê và bản đồ chuyên đề là điều kiện cần cho các bài thực hành.

Với giảng viên, phần Lí luận dạy học Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam (phần đại cương) và các "ví dụ mẫu" về trình bày bảng số liệu, biểu đồ, bản đồ - mà tác giả nói rõ là làm ra "để các đồng nghiệp tham khảo" - là phần có thể dùng trực tiếp trong thiết kế bài giảng. Bản thảo đã qua đọc và góp ý của GS.TS Lê Thông và GS.TS Nguyễn Viết Thịnh.

Với người tự học và tra cứu, các bảng phân loại đất, hệ sinh thái, khoáng sản và dân tộc kèm số liệu trữ lượng, diện tích, địa danh phân bố có thể dùng như phần tra cứu độc lập.

Câu hỏi thường gặp

1. Giáo trình này phù hợp với ai? Trước hết là sinh viên sư phạm địa lí thuộc Dự án đào tạo giáo viên THCS - Loan No 1718 - VIE (SF). Tác giả nêu thêm ba nhóm: sinh viên đại học chuyên ngành địa lí, sinh viên các chuyên ngành kinh tế - xã hội, và người quan tâm tới địa lí nói chung.

2. Cần kiến thức nền nào để học? Nền địa lí tự nhiên đại cương (địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, sinh vật, địa chất khoáng sản), vì các khái niệm như quá trình feralitic, thủy chế, cân bằng bức xạ được dùng như kiến thức đã biết. Ngoài ra cần kỹ năng đọc bảng thống kê và bản đồ chuyên đề cho phần thực hành.

3. Điểm khác biệt với các giáo trình khác? Ba điểm có thể nêu từ chính văn bản. Thứ nhất, đây là bản biên soạn lại từ giáo trình đại học in năm 2000 (đã tái bản ba lần), có bổ sung, rút gọn và thay thế nhận định cũ. Thứ hai, giáo trình có phần Lí luận dạy học Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, tức là gắn nội dung chuyên môn với phương pháp truyền đạt - phù hợp với mục đích đào tạo giáo viên. Thứ ba, cách trình bày bảng số liệu, biểu đồ, bản đồ được xây dựng có chủ ý như "ví dụ mẫu" nghiệp vụ.

4. Làm sao để tự học hiệu quả? Trình tự do chính giáo trình gợi ý: đọc nội dung chương → trả lời hệ thống câu hỏi cuối chương → làm bài thực hành. Ba bài thực hành Chương 1 đại diện ba kỹ năng khác nhau (sưu tầm - viết báo cáo; xử lí số liệu - vẽ biểu đồ; đọc và đối chiếu bản đồ), nên làm đủ cả ba thay vì chỉ chọn một. Với các câu hỏi tổng hợp liên hợp phần - như câu về quan hệ giữa sử dụng hợp lí đất với rừng, khí hậu và nước - cần đối chiếu nhiều mục trong chương chứ không tìm câu trả lời ở một chỗ.

5. Có tài liệu bổ trợ nào kèm theo? Phần Tài liệu tham khảo ở cuối sách (tr. 204) gồm cả tài liệu tác giả đã dựa vào và tài liệu khuyến nghị đọc sâu thêm. Trong chính văn có các dẫn nguồn cụ thể: Lê Bá Thảo (1990), Vũ Tự Lập chủ biên (1995), Nguyễn Quang Ngọc (2000), Chương trình hành động về đa dạng sinh học cho Việt Nam (1994), Sách Đỏ Việt Nam, Niên giám thống kê các năm 2000, 2003, 2005, Tổng điều tra dân số 1979 và Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999, Tổng kiểm kê đất đai toàn quốc năm 2000, Atlas GIS (1999), Đoàn Thiên Tích (2001), Mac Millan Global Atlas (2003). Tập 1 cần được dùng cùng tập tiếp theo của bộ.

Kết luận

Giá trị sử dụng của tập 1 nằm ở ba lớp nội dung: hệ thống đánh giá nguồn lực tự nhiên đặt trong khung tổ chức lãnh thổ kinh tế; phân tích dân cư - dân tộc với chuỗi số liệu 1951-2005 và bảng phân loại 54 dân tộc theo ba dòng ngôn ngữ; và phần lí luận dạy học gắn nội dung chuyên môn với nghiệp vụ sư phạm.

Lộ trình học phù hợp với trật tự chương: vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên → dân cư → nông - lâm - ngư nghiệp → công nghiệp → dịch vụ → lí luận dạy học, mỗi chương khép lại bằng câu hỏi và bài thực hành trước khi chuyển tiếp. Nguồn bổ sung gồm danh mục tài liệu tham khảo cuối sách, các tài liệu nền được dẫn trong chính văn, và các bộ số liệu thống kê quốc gia (Niên giám thống kê, tổng điều tra dân số, kiểm kê đất đai, kiểm kê rừng) mà giáo trình sử dụng - vốn được cập nhật định kì và cho phép người học đối chiếu số liệu mới với các mốc nêu trong sách.