Chương 1, 7, 8, 9, 10, 11 ngôn ngữ là do cảm giác, không phải do nhu cầu giao tiếp mà do bản chất tinh thần của con người cốt để bộc lộ, giao tiếp với bản thân. Thuyết công ước xã hội lại cho rằng: ngôn ngữ ra đời là do thoả thuận, qui ước của người nguyên thuỷ và công ước của người văn minh. Các quan điểm trên phân tích nguồn gốc ngôn ngữ chỉ từ một vài sự kiện, hiện tượng cá biệt, không thấy được chức năng ngôn ngữ do nhu cầu giao tiếp của con người trong đời sống xã hội. Quan điểm mác xít: Ngôn ngữ ra đời gắn liền với quá trình vận động, phát triển của xã hội loài người.
Con người là chủ thể sáng tạo ra ngôn ngữ thông qua quá trình lao động. Lao động sáng tạo ra loài người và cũng chính trong quá trình đó, lao động sáng tạo ra ngôn ngữ và làm cho ngôn ngữ ngày càng phát triển, ngôn ngữ trở thành công cụ giao tiếp quan trọng nhất của xã hội. Ăngghen viết: "Sau cuộc đấu tranh kéo dài hàng nghìn năm, cuối cùng, bàn tay đã phân biệt với bàn chân, và dáng đi thẳng đã được xác lập vững chắc rồi, thì con người tách khỏi con khỉ, và mới có cơ sở cho sự phát triển của tiếng nói có âm tiết và cho sự phát triển mạnh mẽ của bộ óc, sự phát triển đã làm cho cái vực sâu giữ người và khỉ từ đó trở nên không thể vượt qua nổi"1. Đồng tình với quan điểm duy vật biện chứng đó, V.
Lênin khẳng định: "Ngôn ngữ bắt nguồn trong lao động và cũng nảy sinh với lao động, đó là cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ"2. * Vai trò của ngôn ngữ trong dân tộc học Đối với xã hội nói chung§, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp căn bản nhất của con người, là động lực quan trọng để tồn tại và phát triển xã hội. Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc hình thành tư duy. Ngôn ngữ tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành và phát triển tư duy, tư tưởng của con người.
Nếu không ngôn ngữ thì loài người và tư tưởng của loài người không tồn tại. Ngôn ngữ có mối quan hệ chặt chẽ với dân tộc. Mỗi dân tộc bao giờ cũng có một ngôn ngữ riêng của mình, đó là công cụ, phương tiện giao tiếp của cả cộng đồng dân tộc. Do vậy, ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu Dân tộc học.
Angghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994. Lênin bàn về ngôn ngữ, Nxb Sự thật, H. Lê Đại nghĩa (Chủ biên) Chương 1, 7, 8, 9, 10, 11 - Ngôn ngữ là một trong những đặc trưng quan trọng nhất để phân biệt tộc người, dân tộc này với tộc người, dân tộc khác. Qua nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ cho ta thấy được lịch sử tộc người: tồn tại xã hội, sự vật, hiện tượng môi sinh, lao động sản xuất, sinh hoạt, ý thức, tư duy; quan hệ giữa các tộc người, dân tộc trong lịch sử tộc người.
- Ngôn ngữ giúp cho việc nghiên cứu lịch sử phát triển của nền văn hoá dân tộc. Bởi vì, ngôn ngữ là biểu hiện của nền văn hoá dân tộc; là phương tiện lưu giữ, truyền tải văn hoá dân tộc. Đồng thời, ngôn ngữ là công cụ biểu cảm, công cụ nghệ thuật phản ánh giá trị nhân văn của dân tộc. Sự hình thành các ngữ hệ trên thế giới 3.
Ngữ hệ và sự hình thành ngữ hệ Ngữ hệ là tập hợp những ngôn ngữ có cùng một nguồn gốc, được xác định bởi những đặc điểm giống nhau về hệ thống từ cơ bản, thanh điệu, và ngữ pháp. Như vậy, ngữ hệ là một nhóm ngôn ngữ chung ngôn ngữ gốc (ngôn ngữ mẹ), được thể hiện trên các phương diện: từ vị cơ bản (số đếm, các bộ phận của cơ thể con người, hiện tượng, trạng thái tình cảm, thời tiết, quan hệ gia đình), ngữ pháp, thanh điệu và ngữ âm; chỉ khác về phát âm, vốn từ, còn ngữ pháp, âm vị khác biệt rất ít. Trong một ngữ hệ lại được chia thành các ngữ chi: ngữ chi là tập hợp một nhóm ngôn ngữ của một ngữ hệ mà giữa chúng có các yếu tố khác nhau. Ngôn ngữ trong cùng một ngữ chi có nhiều nét giống nhau hơn.
Có nhiều quan điểm khác nhau về sự hình thành các ngữ hệ trên thế giới, song quan điểm phổ biến hiện nay là: Sự hình thành ngữ hệ gắn liền với sự phân chia các khối cộng đồng tộc người. Đồng thời cùng với sự phân chia các cộng đồng tộc người cùng là quá trình phân chia luôn thành các ngôn ngữ khác nhau có cùng nguồn gốc. Một tập thể người bản địa sử dụng một ngôn ngữ trong quá trình chia tách cộng đồng tộc người cũng đồng thời bị chia ra làm nhiều bộ phận với các phương ngôn khác nhau, rồi phát triển thành các ngôn ngữ tộc người khác nhau; tập hợp các ngôn ngữ có cùng nguồn gốc hình thành nên một ngữ hệ. Quá trình hình thành các ngữ hệ là một quá trình lâu dài trong lịch sử - kéo dài hàng vạn năm.
Khi các thị tộc, bộ lạc ra đời, do quá trình thiên di, làm phân li tộc người do cách biệt địa lí, làm xuất hiện các phương ngữ và lâu dần Đại tá, TS. Lê Đại nghĩa (Chủ biên) Chương 1, 7, 8, 9, 10, 11 trở thành các ngôn ngữ tộc người riêng biệt. Tập hợp các ngôn ngữ có chung nguồn gốc đó, tạo nên một ngữ hệ. Thời gian xuất hiện các ngữ hệ vào thời kì công xã nguyên thuỷ, cách ngày nay khoảng 13.
Tóm lại, ngữ hệ hình thành chủ yếu bằng cách phân chia từ một ngôn ngữ gốc thành các phương ngôn rồi phát triển thành các ngôn ngữ riêng biệt do sự phân tách cộng đồng người trong xã hội nguyên thuỷ. Ngữ hệ ra đời là một quá trình lâu dài hàng ngàn năm thậm chí hàng vạn năm trong lịch sử. Tuynhiên, thời gian hình thành ngữ hệ còn là vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau cần tiếp tục nghiên cứu. Cách phân loại ngôn ngữ và ngữ hệ trên thế giới Tuỳ mục đích nghiên cứu mà người ta phân loại ngôn ngữ theo những cách khác nhauT, hiện nay có hai cách phân loại chủ yếu sau: Một là, phân loại ngôn ngữ theo loại hình hình thái học.
Đây là cách phân loại dựa trên những dấu hiệu cấu trúc cơ bản của các ngôn ngữ, rồi sắp xếp lại với nhau theo loại hình. Theo cách phân loại này, người ta chia ngôn ngữ thành các loại hình sau: Ngôn ngữ đơn lậpN: Đây là loại ngôn ngữ mà các từ riêng biệt trong câu thường tách rời nhau, không có thành phần phụ, không biến cách đại từ, không biến đổi theo giống, theo số ít, số nhiều. Ngôn ngữ đơn lập các từ được liên kết vào nhau để phản ánh nghĩa trong câu, trật tự của từ nghiêm ngặt quyết định ý nghĩa của câu, không thể hoán vị được, điển hình loại này như tiếng Việt, tiếng Hán. Ngôn ngữ biến hình (biến cách): Là loại ngôn ngữ có quy định chặt chẽ về giống (đực, cái), về số (ít, nhiều), về cách, về thức, đòi hỏi phải biến đổi phức tạp.
Các từ của câu thường có thành phần phụ được ghép vào từ cán một cách chặt chẽ. Khi thay đổi thành phần phụ gia sẽ biến đổi nghĩa của từ hoặc của câu. Điển hình cho loại ngôn ngữ này là ngôn ngữ ấn, Âu, như tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp. Ngôn ngữ dính: Là loại ngôn ngữ có thành phần phụ, nhưng mỗi ý nghĩa của từ thường được biểu hiện bằng một thành phần phụ, mỗi thành phần phụ gia Đại tá, TS.
Lê Đại nghĩa (Chủ biên) Chương 1, 7, 8, 9, 10, 11 chỉ có một nghĩa chắp dính vào nhau. Điển hình cho loại ngôn ngữ này là tiếng Phần Lan và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Ngôn ngữ đa thức tổng hợp: Là loại ngôn ngữ biểu hiện trong một tổng thể phức tạp như một câu hợp lại từ nhiều từ. Ngôn ngữ này thường có ở thổ dân châu Mỹ.
Hai là, phân loại ngôn ngữ theo phổ hệ (theo dòng họ). Đển phân loại theo phổ hệ, người ta dùng phương pháp so sánh ngôn ngữ lịch sử, tìm ra sự giống nhau về từ vựng, nhất là từ cơ bản, âm tiết, ngữ pháp, xếp chúng vào một nhóm thành một hệ ngữ. Đây là cách phân loại dựa trên cơ sở nguồn gốc chung của ngôn ngữ, bao gồm: Hệ số đếm - từ thân tộc - những từ chỉ công cụ sản xuất, vật dụng, hiện tượng gần gũi với con người như: Cày, bừa, ăn, uống. Phân loaị ngôn ngữ theo phổ hệ được sử dụng phổ biến trong dân tộc học, bởi qua tìm hiểu lịch sử văn hoá dân tộc, mối quan hệ của các dân tộc, địa bàn cư trú của các dân tộc.
Theo cách phân loại ngôn ngữ phổ hệ, các nhà khoa học chia ngôn ngữ thế giới ra làm 20 ngữ hệ chính sau: ngữ hệ ấn- Âu, ngữ hệ Xêmít – Khamít, ngữ hệ Hán – Tạng, ngữ hệ Nam Đảo, ngữ hệ Nam Á, ngữ hệ Antai, ngữ hệ Uran, ngữ hệ Capcazơ, ngữ hệ Trucôtxcơ, ngữ hệ Nigherơ, ngữ hệ Ninxahara, ngữ hệ Côisan, ngữ hệ ngữ hệ Thái, ngữ hệ Anđamăng, ngữ hệ Papua, ngữ hệ Ôxtraylia, ngữ hệ Eskimô, ngữ hệ Anh điêng, ngữ hệ Daravida và nhóm ngôn ngữ Anh điêng khác. Trong đó có 8 ngữ hệ được sử dụng khá phổ biến trong quan hệ quốc tế hiện nay đó là: Ngữ hệ Hán – Tạng có khoảng hơn 1 tỉ người sử dụng; Ngữ hệ ấn - Âu có khoảng hơn 2 tỉ; Ngữ hệ Thái có khoảng 70 triệu; Ngữ hệ Nam á có khoảng 90 triệu; Ngữ hệ Nam Đảo có khoảng 200 triệu; Ngữ hệ Xêmít – Khamít có khoảng 200 triệu; Ngữ hệ An Tai có khoảng hơn 200 triệu; Ngữ hệ U Ran có khoảng 25 triệu. Các ngữ hệ chính ở Việt Nam và nguồn gốc tiếng Việt 3. Các ngữ hệ chính ở Việt Nam Hiện nay quốc gia dân tộc Việt Nam có 54 dân tộc, tộc người cùng sinh sống.
Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, đều thuộc 4 ngữ hệ chính đó là: ngữ hệ Nam Á, Thái, Nam Đảo và Hán - Tạng. Ngữ hệ Nam Á: có số lượng người sử dụng đông nhất, gồm 32 ngôn ngữ với 3 ngữ chi và 1 nhóm ngôn ngữ hỗn hợp. Lê Đại nghĩa (Chủ biên) Chương 1, 7, 8, 9, 10, 11 Ngữ chi Việt - Mường gồm có 4 ngôn ngữ: Kinh, Mường, Thổ, Chứt. Ngữ chi Môn - Khơ me gồm có 21 ngôn ngữ: Khơ me, Cơ ho, Xơ đăng, Hơ rê, Mnông, Xtiêng, Bru- Vân kiều, Cơ tu, Gié Triêng, Mạ, Khơ Mú, Co, Tà ôi, Xinh mun, Chơ ro, Mảng, Kháng, Rơ măm, Ơđu, Brâu.