Giáo trình chủ nghĩa vô thần khoa học: Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

Giáo trình cung cấp nền tảng lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa vô thần khoa học. Phân tích quan điểm triết học, lịch sử và thực tiễn một cách hệ thống.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2001

176
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đối tượng và nhiệm vụ của chủ nghĩa vô thần khoa học

Chủ nghĩa vô thần khoa học là một bộ phận của triết học Mác-Lênin, thuộc về ý thức xã hội. Thuật ngữ "vô thần" bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp "athéos", mang ý nghĩa phủ định thần thánh. Chủ nghĩa vô thần khoa học nghiên cứu nguồn gốc, bản chất của tôn giáo, lịch sử các học thuyết vô thần. Hệ thống quan điểm lý luận này chỉ ra con đường khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng tôn giáo trong đời sống xã hội. Chủ nghĩa vô thần khoa học góp phần hình thành thế giới quan duy vật khoa học. Đây là lĩnh vực tri thức có tính độc lập tương đối, với phạm vi và đối tượng nghiên cứu riêng biệt. Nội dung chủ yếu bao gồm việc phân tích tính quy luật của sự phát sinh, tiến triển tôn giáo. Đồng thời, ngành học này nghiên cứu sự hình thành và phát triển thế giới quan duy vật khoa học. Chủ nghĩa vô thần khoa học phân tích bản chất xã hội của tôn giáo. Tôn giáo được hiểu là sự phản ánh hư ảo thế giới hiện thực vào đầu óc con người.

1.1. Khái niệm chủ nghĩa vô thần khoa học

Chủ nghĩa vô thần là hệ thống quan điểm lý luận phủ định thần thánh và các lực lượng siêu nhiên. Chủ nghĩa vô thần khoa học thuộc về ý thức xã hội, là bộ phận không tách rời của triết học Mác-Lênin. Ngành học này nghiên cứu những vấn đề có tính quy luật của sự phát sinh, tiến triển tôn giáo. Đối tượng nghiên cứu bao gồm sự khắc phục ảnh hưởng của thế giới quan duy tâm tôn giáo. Chủ nghĩa vô thần khoa học còn nghiên cứu tính quy luật của sự hình thành, phát triển thế giới quan duy vật khoa học.

1.2. Vị trí trong hệ thống tri thức khoa học

Chủ nghĩa vô thần khoa học là bộ phận của thế giới quan duy vật khoa học thuộc giai cấp công nhân. Ngành học này góp phần làm cho thế giới quan duy vật trở nên hoàn chỉnh hơn. Chủ nghĩa vô thần khoa học là cơ sở phương pháp luận của nhận thức và cải tạo hiện thực. Tuy nhiên, đây là lĩnh vực tri thức có tính độc lập tương đối với phạm vi riêng. Đối tượng nghiên cứu riêng biệt giúp ngành học này có vị trí quan trọng trong hệ thống tri thức xã hội.

II. Phân tích bản chất xã hội và nguồn gốc của tôn giáo

Chủ nghĩa vô thần khoa học phân tích bản chất xã hội của tôn giáo một cách toàn diện. Tôn giáo là sự phản ánh hư ảo thế giới hiện thực vào đầu óc con người. Chỉ trên cơ sở phân tích khoa học về tôn giáo mới có được lý luận vô thần đúng đắn. Ngành học này phê phán các quan điểm duy tâm thần bí và phản khoa học trong tôn giáo. Các khái niệm như niềm tin vào thần thánh, sự bất tử của linh hồn đều bị phê phán. Chủ nghĩa vô thần khoa học chỉ ra tính chất sai lầm của quan niệm về sự cứu vớt cá nhân. Những thuyết về sự trừng phạt khủng khiếp và đền bù ở thế giới bên kia cũng được làm sáng tỏ. Mác khẳng định phê phán tôn giáo giúp con người thoát khỏi ảo tưởng. Con người được giải phóng để tư duy, hành động với lý trí đúng đắn. Chủ nghĩa vô thần khoa học nghiên cứu nguồn gốc xã hội là nguồn gốc chủ yếu của tôn giáo. Nguồn gốc tâm lý cũng là yếu tố quan trọng giải thích sự tồn tại của tôn giáo. Tâm trạng cô đơn, sợ hãi, tuyệt vọng là những yếu tố tâm lý cơ bản. Tai hoạ tự nhiên và phức tạp xã hội làm tăng thêm niềm tin siêu nhiên.

2.1. Nguồn gốc xã hội của tôn giáo

2.2. Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo

Nguồn gốc tâm lý giải thích sự ra đời của tôn giáo qua trạng thái cảm xúc con người. Tâm trạng cô đơn, sợ hãi, tuyệt vọng đã có ở cả động vật bậc cao. Con người với trí tưởng tượng phong phú dễ rơi vào trạng thái sợ hãi trước tai hoạ. Dịch bệnh, bão tố, động đất, chiến tranh tạo ra nỗi sợ hãi lớn lao. Cái chết đặc biệt làm nảy sinh sự sợ hãi và lòng tin vào Thượng đế. Song song đó, hiện tượng tự nhiên thuận lợi cũng tạo ra lòng biết ơn và kính trọng.

III. Phương pháp phê phán và khắc phục ảnh hưởng tôn giáo tiêu cực

Chủ nghĩa vô thần khoa học sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để phê phán tôn giáo. Phương pháp luận khoa học giúp phân tích tính chất sai lầm, phản khoa học của các quan niệm tôn giáo. Ngành học này phê phán niềm tin mù quáng vào thần thánh và các lực lượng siêu nhiên. Phương pháp lịch sử được áp dụng để nghiên cứu các học thuyết vô thần qua các thời kỳ. Chủ nghĩa vô thần khoa học kế thừa tư tưởng có giá trị từ các học thuyết trước đó. Từ thời cổ đại, nhiều nhà tư tưởng đã phê phán tôn giáo trên lập trường duy vật. Xpinôda khẳng định con người là sản phẩm của tự nhiên, phải tuân theo quy luật tự nhiên. Ông bác bỏ thuyết linh hồn bất tử, đứng trên lập trường duy vật và vô thần. Sang thế kỷ XVIII, chủ nghĩa vô thần chiến đấu xuất hiện trên vũ đài lịch sử Pháp. Môngtexkiơ phê phán chủ nghĩa kinh viện và giáo hội một cách mạnh mẽ. Ông cho rằng xã hội và tự nhiên thống nhất, đều tuân theo quy luật khách quan. Phương pháp cải tạo thế giới quan đòi hỏi con người phải có tri thức khoa học. Lao động sáng tạo và học tập là con đường giải phóng con người khỏi mê tín dị đoan.

3.1. Phương pháp phê phán các quan niệm tôn giáo

Phương pháp phê phán dựa trên thế giới quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin. Chủ nghĩa vô thần khoa học phân tích tính chất sai lầm của niềm tin vào thần thánh. Các quan niệm về sự bất tử linh hồn, cứu vớt cá nhân đều bị phê phán. Phương pháp lịch sử so sánh giúp nghiên cứu sự phát triển của các học thuyết vô thần. Ngành học sử dụng tư tưởng có giá trị từ các nhà tư tưởng vô thần trước đó.

3.2. Con đường khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo

Con đường khắc phục đòi hỏi phát triển tri thức khoa học và nâng cao nhận thức xã hội. Xpinôda cho rằng con người giải thoát khỏi đau khổ nhờ tin vào tri thức khoa học. Môngtexkiơ khẳng định con người phải học tập và lao động để thoát khỏi mê tín. Chế độ xã hội công bằng tạo điều kiện loại bỏ nguyên nhân sinh ra tôn giáo. Giáo dục khoa học và phát triển kinh tế xã hội là biện pháp căn bản lâu dài.

IV. Ý nghĩa và ứng dụng của chủ nghĩa vô thần khoa học trong thực tiễn

Chủ nghĩa vô thần khoa học có ý nghĩa to lớn trong nhận thức và cải tạo xã hội. Ngành học cung cấp cơ sở phương pháp luận cho việc xây dựng thế giới quan duy vật. Kiến thức về chủ nghĩa vô thần khoa học giúp con người nhận thức đúng bản chất tôn giáo. Ứng dụng thực tiễn thể hiện trong công tác giáo dục, tuyên truyền khoa học. Chủ nghĩa vô thần khoa học góp phần đấu tranh chống mê tín dị đoan trong xã hội. Ngành học hỗ trợ xây dựng đời sống tinh thần lành mạnh, tiến bộ cho nhân dân. Trong bối cảnh hiện đại, chủ nghĩa vô thần khoa học giúp định hướng nhận thức xã hội. Nội dung giáo dục vô thần được tích hợp trong hệ thống giáo dục chính trị xã hội. Chủ nghĩa vô thần khoa học là công cụ lý luận sắc bén trong cuộc đấu tranh tư tưởng. Ngành học giúp phân biệt ranh giới giữa tín ngưỡng tôn giáo và mê tín dị đoan. Ứng dụng chủ nghĩa vô thần khoa học đòi hỏi sự kiên trì, khoa học và nhân văn. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng con người có thế giới quan duy vật tiến bộ.

4.1. Ý nghĩa lý luận của chủ nghĩa vô thần khoa học

Ý nghĩa lý luận thể hiện ở việc hoàn chỉnh thế giới quan duy vật khoa học. Chủ nghĩa vô thần khoa học cung cấp cơ sở phương pháp luận cho nhận thức hiện thực. Ngành học làm sáng tỏ bản chất xã hội và nguồn gốc của tôn giáo. Kiến thức này giúp con người hiểu rõ quy luật phát triển của ý thức xã hội. Ý nghĩa lý luận còn ở việc kế thừa và phát triển các tư tưởng vô thần tiến bộ.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong đời sống xã hội

Ứng dụng thực tiễn trước hết trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Chủ nghĩa vô thần khoa học giúp đấu tranh chống mê tín dị đoan hiệu quả. Ngành học hỗ trợ xây dựng đời sống tinh thần lành mạnh cho nhân dân lao động. Nội dung vô thần khoa học được tích hợp trong chương trình giáo dục đại học. Ứng dụng còn thể hiện trong việc định hướng nhận thức xã hội hiện đại.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chñ ®Ò 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA CHỦ NGHĨA VÔ THẦN KHOA HỌC 1. Đối tượng của chủ nghĩa vô thần khoa học 1. Khái niệm vµ ®èi tîng cña chñ nghÜa v« thÇn khoa häc Chủ nghĩa “vô thần”, gốc từ Hy Lạp, là athéos, có nghĩa là phủ định thần thánh. Lµ mét bé phËn cña triÕt häc, thuéc vÒ ý thøc x· héi, chñ nghÜa v« thÇn lµ mét hÖ thèng quan ®iÓm lý luËn phñ ®Þnh thÇn th¸nh, phñ ®Þnh c¸c lùc lîng siªu nhiªn, chØ ra b¶n chÊt x· héi cña nã vµ x¸c ®Þnh con ®êng, c¸ch thøc kh¾c phôc ¶nh hëng tiªu cùc cña tÝn ng- ìng, t«n gi¸o trong ®êi sèng x· héi. Chñ nghÜa v« thÇn lµ thÕ giíi quan cña c¸c giai cÊp vµ c¸c tËp ®oµn x· héi tiÕn bé, ®èi lËp víi thÕ giíi quan duy t©m cña c¸c giai cÊp, c¸c lùc lîng ph¶n khoa häc, ph¶n ®éng trong gi¶i thÝch vÒ thÕ giíi vµ vÞ trÝ con ngêi trong thÕ giíi. Chủ nghĩa vô thần khoa học nghiên cứu nguồn gốc, bản chất tôn giáo, lịch sử của các học thuyết vô thần, chỉ ra con đường khắc phục thÕ giíi quan duy t©m t«n giáo và hình thành thế giới quan duy vật khoa học. Chủ nghĩa vô thần khoa học là một bộ phận không tách rời triết học Mác- Lênin, góp phần làm cho thế giới quan duy vật hoàn chỉnh, là cơ sở phương pháp luận của nhận thức và cải tạo hiện thực. Chñ nghÜa v« thÇn khoa häc lµ mét bé phËn cña thÕ giíi quan duy vËt khoa häc cña giai cÊp c«ng nh©n vµ c¸c lùc lîng x· héi tiÕn bé trong nhËn thøc vµ c¶i t¹o x· héi. Tuy nhiªn, chủ nghĩa vô thần khoa học là một lĩnh vực tri thức có tính độc lập tương đối, có phạm vi riêng, có đối tượng nghiên cứu riêng. Đối tượng của chủ nghĩa vô thần khoa học lµ nghiªn cứu nh÷ng vÊn ®Ò cã tính quy luật của sự phát sinh, tiến triển, sự khắc phục ¶nh hëng cña 2 thÕ giíi quan duy t©m tôn giáo và tính quy luật của sự hình thành, phát triển thế giới quan duy vật khoa học. Chủ nghĩa vô thần khoa học nghiên cứu bản chất xã hội của tôn giáo. Tôn giáo là sự phản ánh hư ảo thế giới hiện thực vào đầu óc con người. Chỉ trên cơ sở phân tích khoa học về tôn giáo, phân tích bản chất và vai trò xã hội của nó thì mới có được một lý luận vô thần khoa học. Chủ nghĩa vô thần khoa học phân tích, phê phán nh÷ng quan ®iÓm duy t©m thÇn bÝ, ph¶n khoa häc, ph¶n v¨n ho¸ trong c¸c quan niệm và khái niệm của tôn giáo. Trªn c¬ së thÕ giíi quan vµ ph¬ng ph¸p luËn khoa häc, chñ nghÜa v« thÇn khoa häc phª ph¸n tÝnh chÊt sai lÇm, ph¶n khoa häc cña c¸c quan niÖm nh niềm tin vào thần thánh; sự bất tử của linh hồn; sự cứu vớt cá nhân; sự trừng phạt khủng khiếp; sự đền bù ở thế giới bên kia.Mác cho rằng, việc phê phán tôn giáo làm cho con người thoát khỏi ảo tưởng, để con người tư duy, hành động, xây dựng tính hiện thực của mình, với tư cách là một con người đã thoát khỏi ảo tưởng và đạt đến tuổi có lý trí . Chủ nghĩa vô thần khoa học nghiên cứu lịch sử các học thuyết vô thần; sử dụng các tư tưởng có giá trị mà các học thuyết vô thần trước đó tích luỹ được. Chủ nghĩa vô thần khoa học phản ánh thế giới quan của các giai cấp, tÇng lớp xã hội có khuynh hướng tiến bộ, đấu tranh chống tôn giáo, nhà thờ gắn liền với đấu tranh chống các lực lượng xã hội bảo thủ, phản động. Tư tưởng vô thần xuất hiện từ thời cổ đại. Các nhà triết học Hylạp cổ đại theo đường lối triết học duy vật từ Đêmôcrít (460-370 TCN) đến Êpiquya (341- 270 TCN) đều cho rằng, không có Thượng đế, không có thần linh, chỉ có hình ảnh của chúng là những thứ có được do trí tưởng tượng của con người tạo ra. Linh hồn của con người cũng do nguyên tử cấu tạo nên. Vào thế kỷ XVIII, các nhà tư tưởng Pháp phê phán tôn giáo, nhà thờ, đồng thời phê phán trật tự xã hội phong kiến. Tư tưởng vô thần luôn luôn mang đặc 3 điểm tiến bộ, khẳng định thế giới quan mới, tiên tiến. Nội dung các quan điểm vô thần thường gắn với đặc điểm đấu tranh tư tưởng, với sự phát triển của khoa học tự nhiên và của triết học. Chủ nghĩa vô thần trước Mác đã gắn liền vấn đề phê phán tôn giáo với việc giải phóng con người khỏi xiềng xích của sự dốt nát và thành kiến, sự sợ hãi và nhẫn nhục. Trong các tác phẩm của Mác, Ăngghen và Lênin đã chỉ ra những mặt tích cực của chủ nghĩa vô thần trước Mác, thông qua việc phủ định Thượng đế và khẳng định sự tồn tại của con người. Theo Mác, việc phê phán tôn giáo dẫn đến học thuyết cho rằng con người là tồn tại tối cao đối với con người. Tuy vậy, do hoàn cảnh lịch sử và lập trường giai cấp mµ chủ nghĩa vô thần trước Mác có những hạn chế về khoa học, không hiểu bản chất xã hội của tôn giáo, không làm rõ nguyên nhân xã hội của tôn giáo. Chủ nghĩa vô thần khoa học thay thế chủ nghĩa vô thần trước Mác là tất yếu. Chủ nghĩa vô thần khoa học coi tôn giáo trong xã hội có đối kháng giai cấp là sản phẩm tất yếu của chế độ người bóc lột người, của sự áp bức về xã hội, về kinh tế và tinh thần. Chủ nghĩa vô thần khoa học nhấn mạnh nhiệm vụ phê phán tôn giáo một cách khoa học và chỉ ra sự đòi hỏi phải thay đổi các quan hệ xã hội đã sản sinh ra tôn giáo. Mác cho rằng, phê phán thượng giới biến thành phê phán cõi trần, phê phán tôn giáo biến thành phê phán pháp quyền, phê phán thần học biến thành sự phê phán chính trị. Chủ nghĩa vô thần khoa học tiếp thu các giá trị chủ nghĩa vô thần trước Mác trong phê phán tôn giáo, chỉ ra nguồn gốc tôn giáo trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, gắn liền nhiệm vụ đấu tranh chống quan ®iÓm duy t©m, ph¶n khoa häc, ph¶n v¨n ho¸ cña tôn giáo với giải phóng quần chúng lao động, chỉ ra con đường để khắc phục tôn giáo. Như vậy, chủ nghĩa vô thần khoa học vạch rõ tính chất ảo tưởng hoang đường trong quan niệm của tôn giáo (về thế giới, con người, ý niệm Thượng đế, đấng sáng thế, sự bất tử của linh hồn . Chủ nghĩa vô thần khoa học chỉ rõ về mặt lý luận tính chất sai lầm của các quan điểm duy tâm tôn giáo, làm sáng tỏ 4 bản chất xã hội của tôn giáo điều kiện, nguyên nhân, nguồn gốc phát sinh và tồn tại của tôn giáo, chỉ ra những con đường khắc phục tôn giáo. Chủ nghĩa vô thần khoa học nghiên cứu quy luật của sự khắc phục thế giới quan duy tâm tôn giáo và hình thành, phát triển thế giới quan vô thần khoa học. Nghiên cứu tôn giáo không phải mục đích tự thân của chủ nghĩa vô thần khoa học. Sự phân tích bản chất, chức năng xã hội của tôn giáo gắn liền với nghiên cứu tính quy luật khắc phục thế giới quan duy tâm tôn giáo, tính quy luật hình thành, phát triển thế giới quan vô thần khoa học. T«n gi¸o, tÝn ngìng – kh¸ch thÓ nghiªn cøu cña chñ nghÜa v« thÇn khoa häc * Tôn giáo Quan niệm về tôn giáo được thịnh hành trong tư tưởng của các nhà thần học thời trung cổ. Ôguytxtanh (354-430) cho r»ng chỉ có Thượng đế sáng tạo ra thế giới và nhận thức được thế giới. Thượng đế là cái huyền bí, hư ảo. Tômát Đacanh (1225-1274) cho Thượng đế sáng tạo ra thế giới, là nguyên nhân đầu tiên và nguyên nhân cuối cùng của thế giới. Thượng đế là nguồn gốc của mọi chân lý, là mục đích tối cao, là “quy luật”vĩnh viễn thống trị mọi cái. Ông cho, những chân lý thần học là “siêu lý trí”, triết học phải phụ thuộc vào thần học. Ngược lại với quan điểm duy tâm, trong lịch sử đã hình thành các quan điểm duy vật về tôn giáo. Côpécních (1473-1543) bác bỏ Chúa sáng tạo thế giới. Hium (1711-1776) cho rằng, nguồn gốc tôn giáo là sự tưởng tượng của con người, nó khuyến khích cảm giác sợ hãi và hy vọng. Điđrô (1713-1784) cho không phải tôn giáo sáng tạo ra con người, mà chính con người sáng tạo ra tôn giáo. Phủ nhận sự thống trị của Thượng đế. Với Hônbách (1723-1789), nguồn gốc tôn giáo là sự ngu dốt và yếu ớt của con người trước mọi hiện tượng tự nhiên.¤ng cho r»ng, ngu dốt lo sợ, đau khổ bao giờ cũng là nguồn gốc của những quan niệm đầu tiên của con người về thần linh. Chính giai cấp thống trị 5 lợi dụng sự ngu dốt của nhân dân mà sử dụng tôn giáo như một thứ vũ khí để nô dịch họ. Hônbách đã định nghĩa thần học là khoa học mang mầu sắc thần linh do chúng ta suy nghĩ về những cái mà chúng ta không hiểu, và làm cho chúng ta mất quan niệm rõ ràng về những điều mà chúng ta hoàn toàn có thể hiểu được. Phơbách (1804-1872) là người có công lớn trong phê phán tôn giáo. Ông coi tôn giáo thực chất chỉ là sự thể hiện bản chất con người dưới hình thức thần bí. Tôn giáo là bản chất con người đã bị tha hoá. Trong lịch sử đã có rất nhiều định nghĩa về tôn giáo. Taylor (1833-1917): cho tôn giáo là sự tin tưởng vào các thực thể tâm linh. Định nghĩa này bước đầu đã chỉ ra bản chất tôn giáo là quan hệ giữa con người và thực thể tâm linh. Sau Taylor có các định nghĩa khác về tôn giáo nhằm làm rõ những mặt, khía cạnh khác nhau của tôn giáo. Durkhein định nghĩa từ góc độ bản thể: Tôn giáo là hệ thống cố kết những tín ngưỡng và thực hành có liên quan đến các sự vật thiêng liêng, gắn với một cộng đồng tinh thần gọi là giáo hội. Lúckman định nghĩa từ chức năng: Tôn giáo là thế giới quan. Schmidt định nghĩa: Tôn giáo là con đường cho tất cả. Từ điển “thuật ngữ tôn giáo” định nghĩa: Tôn giáo là lĩnh vực cần thiết cho những người muốn đối thoại và thực hành với cái thiêng liêng và thần thánh. Một số học giả từ các góc độ tiếp cận khác nhau coi tôn giáo là một bộ phận văn hóa tinh thần mà con người cảm nhận những điều của thế giới vô hình rút ra từ xã hội và tự nhiện mà họ đương sống theo cách nghĩ của nền văn hóa đang chi phối họ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ