MỞ ĐẦU : KHÁI NIỆM CHUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN TRẠNG THÁI KỸ THUẬT ĐỘNG CƠ A. GIỚI THIỆU: Trạng thái kỹ thuật được đặc trưng bởi các thông số cấu trúc, các quan hệ vật lý của quá trình làm việc, tức là các đặc tính kỹ thuật bên trong liên quan tới cơ cấu, mối liên kết, hình dáng các quá trình vật lý hóa học…. việc xác định các thông số trạng thái kỹ thuật nhằm xác dịnh chất lượng chi tiết nói chung và tổng thể hệ thống nói riêng là hết sức cần thiết, nhưng lại không thể thực hiện trực tiếp trong qua trình khai thác kỹ thuật. MỤC TIÊU: – Phát biểu đúng các khái niệm chung về chẩn đoán trạng thái kỹ thuật động cơ – Giải thích và phân tích đúng các thông số kết cấu và thông số chẩn đoán – Phân biệt các phương pháp chẩn đoán trạng thái kỹ thuật động cơ – Chấp hành đúng quy trình, quy phạm trong nghề công nghệ ô tô – Rèn luyện tính kỷ luật, cẩn thận, tỉ mỉ của học viên.
NỘI DUNG Thời gian: 4 giờ: Lý thuyết 2 giờ; Thực hành 2 giờ I. KHÁI NIỆM VỀ CHẨN ĐOÁN TRẠNG THÁI KỸ THUẬT ĐỘNG CƠ. Khái niệm về chẩn đoán trạng thái kỹ thuật động cơ. Khái niệm về chẩn đoán kỹ thuật Trong quá trình sử dụng ôtô trạng thái kỹ thuật của xe bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi.
Để xác định tình trạng kỹ thuật của xe ta có thể tháo rời các cụm, các tổng thành để phát hiện hư hỏng. Nếu làm như vậy sẽ phá hỏng trạng thái tiếp xúc của bề mặt làm việc của các chi tiết máy, ngoài ra còn tăng công lao động, tăng tổng chi phí lao động kỹ thuật. Hiện nay ở nước ta cũng như các nước khác đều dùng máy móc thiết bị để tiến hành kiểm tra trạng thái kỹ thuật của ôtô, của các cụm, tổng thành… mà không cần phải tháo rời chúng. Phương pháp xác định tình trạng kỹ thuật này được gọi là phương pháp chẩn đoán kỹ thuật.
Chẩn đoán kỹ thuật dựa trên hệ thống các quy luật, các tiêu chuẩn đặc trưng cho trạng thái kỹ thuật của ôtô để phán đoán tình trạng kỹ thuật tốt xấu của ôtô. Khi chẩn đoán kỹ thuật do không tháo rời các chi tiết nên không thể trực tiếp phát hiện hư hỏng mà phải thông qua các triệu chứng để phát hiện gián tiếp các hư hỏng ở bên trong. Thí dụ: để đánh giá độ hao mòn của xéc măng - xi lanh người ta dùng thiết bị đo lượng khí cháy lọt xuống các te hoặc để đánh giá tình trạng kỹ thuật của hệ thống phanh ở các bánh xe người ta đo lực phanh ở các bánh xe (hay quãng đường phanh)… Khoa học chẩn đoán là môn khoa học nghiên cứu về phương pháp và công cụ xác đinh trạng thái kỹ thuật của đối tượng chẩn đoán. Khoa học chẩn đoán ra đời từ lâu, nó bắt đầu từ việc chẩn đoán sức khỏe con người và tiếp sau là chẩn đoán thiết bị máy móc.
Tuy ra đời từ rất lâu song sự phát triển gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là thiết bị đo lường có độ tin cậy cao. Ngày nay với sự trợ giúp đắc lực của máy tính, lĩnh vực chẩn đoán có nhiều tiến bộ đáng kể. Đối với ngành giao thông vận tải bằng ôtô, chẩn 13 đoán được vận dụng ngay khi có chiếc ô tô đầu tiên và ngày nay đạt nhiều kết quả như: các hệ thống mới hình thành trong những năm gần đây trên ô tô trang bị hệ thống tự chẩn đoán, chẩn doán bằng trí tuệ nhân tạo. Vậy chẩn đoán tình trạng kỹ thuật ô tô là công tác kỹ thuật nhằm xác định trạng thái kỹ thuật của cụm máy để dự báo tuổi thọ làm việc tiếp tục mà không phải tháo máy.
Mục đích của chuẩn đoán kỹ thuật Trong sử dụng, độ tin cậy lầm việc của ô tô luôn suy giảm, mức độ suy giảm độ tin cậy chung của ô tô phụ thuộc vào độ tin cậy của các hệ thống và chi tiết, bởi vậy để duy trì độ tin cậy chung cần thiết phải tác động kỹ thuật vào đối tượng. Để xác định tình trạng kỹ thuật có thể tiến hành bằng nhiều cách khác nhau: – Tháo rời, kiểm tra, đo đạt, đánh giá. Phương thức này đòi hỏi phải chi phí nhân lực tháo rời và có thể gây nên phá hủy trạng thái tiếp xúc của các bề mặt lắp ghép. Phương thức này gọi là xác định trạng thái kỹ thuật trực tiếp.
– Không tháo rời, sử dụng các biện pháp thăm dò, dựa vào các biểu hiện đặc trưng để xác định tình trạng kỹ thuật của đối tượng. Phương thức này gọi là chẩn đoán kỹ thuật. Giữa hai phương thức trên phương thức chẩn đoán có nhiều lợi thế hơn trong khai thác ô tô. Về mặt quan niệm trong khai thác ô tô, chẩn đoán kỹ thuật có thể là: – Một phần của công nghệ bảo dưỡng và sửa chữa, như vậy vai trò của nó là chỉ nhằm chủ động xác định nội dung, khối lượng công việc mà không mang tính chất phòng ngừa hữu hiệu.
– Tác động kỹ thuật cưỡng bức, còn bảo dưỡng sửa chữa là hệ quả theo nhu cầu của chẩn đoán. Như vậy tác động của chẩn đoánvừa mang tính chủ động, vừa mang tính ngăn chặn các hư hỏng bất thường có thể xảy ra. Tóm lại: chẩn đoán kỹ thuật ô tô là một loại hình tác động kỹ thuật vào quá trình khai thác sử dụng ô tô nhằm đảm bảo cho ô tô hoạt độngcó độ tin cậy, an toàn và hiệu quả cao bằng cách phát hiện và dự báo kịp thời các hư hỏng và tình trạng kỹ thuật hiện tại mà không cần phải tháo rời ô tô hay tổng thành máy của ô tô. Ý nghĩa của chẩn đoán kỹ thuật Chẩn đoán kỹ thuật có các ý nghĩa chính sau: – Nâng cao độ tin cậy của xe và an toàn giao thông, nhờ phát hiện kịp thời và dự đoán trước các hư hỏng có thể xảy ra, nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông, đảm bảo năng suất vận chuyển.
– Nâng cao độ bền lâu, giảm chi phí về phụ tùng thay thế, giảm độ hao mòn các chi tiết do không phải tháo rời các tổng thành. – Giảm tiêu hao nhiên liêu, dầu nờn do phát hiện kịp thời để điều chỉnh các bộ phận đưa về trạng thái làm việc tối ưu. – Giảm giờ công lao động cho công tác bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa. Công tác tự chẩn đoán đã phát triển đối với các loại ô tô hiện đại có tính tiện nghi, độ tin cậy cao.
Trên các cụm phức tạp của xe đã hình thành hệ thống tự chẩn đoán có khả năng tạo với người sử dụng một cách thuận lợi. Kèm theo với các thiết bị tự động điều khiển là các hệ thống chẩn đoán hiện đại ( hệ thống tự báo lổi) tạo khả năng 14 nhanh chóng báo hỏng, tìm lổi để hạn chế nguy cơ mất độ tin cậy của một số chi tiết trong khi ô tô hoạt động. Các định nghĩa trong chẩn đoán kỹ thuật ô tô 1. Hệ thống chẩn đoán Là hệ thống tổ chức được tạo nên bởi công cụ chẩn đoán và đối tượng chẩn đoán với mục đích xác định trạng thái kỹ thuật của đối tượng chẩn đoán.
Qua việc xác định trạng thái kỹ thuật có thể đánh giá chất lượng hiện trạng, những sự cố xãy ra và khã năng sử dụng trong tương lai. Hệ thống chẩn đoán có thể đơn giản hay phức tạp. Công cụ chẩn đoán. Là tập hợp các trạng thái kỹ thuật, phương pháp và trình tự để tiến hành đo đạt, phân tích và đánh giá tình trạng kỹ thuật.
Công cụ chẩn đoán có thể là trang bị kỹ thuật có sẳn của đối tượng chẩn đoán, hay là các trang bị độc lập. nó có thể bao gồm: các cảm nhận của con người,sự phân tích đánh giá của chuyên gia, cũng có thể là các cảm biến có sẳn trên ô tô, các bộ vi xữ lý, các phần mềm tính toán, chuyển đổi, các màng hìn hay tính hiệu giao diện… 1. Đối tượng chẩn đoán. Là đối tượng áp dụng cho chẩn đoán kỹ thuật.
Đối tượng chẩn đoán có thể là: một cơ cấu, tập hợp các cơ cấu, hay toàn bộ hệ thống phức hợp. Tình trạng kỹ thuật Tình trạng kỹ thuật của đối tượng là tập hợp các đặc tính kỹ thuật bên trong tại một thời điểm, tình trạng kỹ thuật biểu thị khã năng thực hiện chức năng yêu cầu của đối tượng trong điều kiện sử dụng xác định. Trạng thái kỹ thuật được đặc trưng bởi các thông số cấu trúc, các quan hệ vật lý của quá trình làm việc, tức là các đặc tính kỹ thuật bên trong liên quan tới cơ cấu, mối liên kết, hình dáng các quá trình vật lý hóa học…. việc xác định các thông số trạng thái kỹ thuật nhằm xác dịnh chất lượng chi tiết nói chung và tổng thể hệ thống nói riêng là hết sức cần thiết, nhưng lại không thể thực hiện trực tiếp trong qua trình khai thác kỹ thuật.CÁC THÔNG SỐ TRONG CHẨN ĐOÁN TRẠNG THÁI KỸ THUẬT 2.
Thông số kết cấu Một tổng thành bao gồm nhiều cụm chi tiết và một cụm bao gồm nhiều chi tiết tạo thành. Chất lượng làm việc của tổng thành sẽ do chất lượng của các cụm, các chi tiết quyết định. Các thông số kết cấu là tập hợp các thông số kỹ thuật thể hiện đặc điểm kết cấu của cụm chi tiết hay chi tiết. Chất lượng các cụm, các chi tiết do các thông số kết cấu quyết định: – Hình dáng, kích thước.
– Vị trí tương quan. – Độ bóng bề mặt. – Chất lượng lắp ghép. Thông số biểu hiện kết cấu.
Thông số biểu hiện kết cấu là các thông số biểu thị các quá trình lý hóa, phản ánh tình trạng kỹ thuật bên trong của đối tượng khảo sát. Các thông số này con người 15 hay thiết bị đo có thể nhận biết được và chỉ xuất hiện khi đối tượng khảo sát hoạt động hay sau khi vừa hoạt động. Các thông số biểu hiện kết cấu đặc trương cho đối tượng khảo sát có thể đo được trên ôtô ví dụ như: công suất động cơ, tốc độ ôtô, nhiệt độ nước làm mát, áp suất đầu, tiếng ồn động cơ, độ rung…. Các thông số biểu hiện kết cấu luôn luôn phụ thuộc vào tình trạng kết cấu và thay đổi theo sự thay đổi của các thông số kết cấu.
Thí dụ: sự tăng khe hở giữa trục và ổ đỡ của động cơ sẽ làm giảm áp suất dầu trong hệ thống bôi trơn cưởng bức, tăng va đập, độ ồn, độ rung… .