Chương 1. Kiến thức cơ bản về thích ứng và giảm nhẹ với biến đổi khí hậu 23 kè biển, xây dựng đập ngăn nước mặn hoặc kênh mương để kiểm soát lũ lụt… Trong khi đó các biện pháp bảo vệ mềm lại chú trọng các giải pháp thích ứng dựa vào hệ sinh thái như tăng cường trồng rừng phòng hộ ven biển, đầu tư vào đất ngập nước, bổ sung đất cho các bãi biển, cải tạo các cồn cát ven biển, trồng rừng ngập mặn… - Các biện pháp thích nghi các biện pháp này nhấn mạnh đến việc đầu tư cải tạo cơ sở hạ tầng, chuyển đổi tập quán canh tác, chú trọng đến việc điều chỉnh các chính sách quản lý bao gồm những phương pháp quy hoạch đón đầu, thay đổi các tiêu chuẩn xây dựng, sử dụng đất, các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức của người dân,. nhằm giảm nhẹ tính dễ tổn thương, tăng cường khả năng thích nghi, sống chung với lũ của cộng đồng trước tác động của BĐKH và nước biển dâng. - Các biện pháp di dời phương án cuối cùng khi mực nước biển dâng lên mà không có điều kiện cơ sở vật chất để ứng phó là biện pháp di dời, rút lui vào sâu trong lục địa.
Đây là phương án né tránh tác động của việc nước biển dâng bằng tái định cư, di dời nhà cửa, cơ sở hạ tầng ra khỏi vùng có nguy cơ bị đe doạ bị ngập nước, phương án này bao gồm cả việc di dân từ vùng đất ngập nước vào sâu trong nội địa. (Nguồn: theo Ths. Nguyễn Văn Huy, Viện Chiến lược, Chính sách TN&MT) Hình 1. Ba nhóm giải pháp thích ứng với nước biển dâng 24 GIÁO TRÌNH THÍCH ỨNG VÀ GIẢM NHẸ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1.
Phân loại theo quy mô - Nhóm giải pháp vi mô mang tính chất và ý nghĩa cục bộ hoặc có nghĩa cho một nhóm đối tượng tại địa phương như trồng các loại cây phù hợp; xây dựng các sinh kế bền vững trong hoàn cảnh BĐKH ở địa phương; xây dựng các kế hoạch thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng địa phương; xây dựng các hoạt động, chương trình tuyên truyền và nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương về BĐKH. - Nhóm giải pháp vĩ mô các chính sách, thể chế hoặc những giải pháp mang tính quốc gia như đầu tư các cơ sở hạ tầng, hệ thống kênh mương phục vụ tưới tiêu đồng thời hạn chế tác động xâm nhập mặn, tiêu thoát lũ; xây dựng hệ thống đê, kè biển chống lại tác động của sóng biển và mực nước biển dâng cao; xây dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực có tích hợp nghiên cứu tác động và giải pháp ứng phó BĐKH. Phân loại theo thời gian thực hiện Căn cứ vào thời gian thực hiện, các giải pháp thích ứng có thể được phân loại thành ngắn hạn (hay trước mắt) và dài hạn. Để hoạt động thích ứng có hiệu quả, cần phải có sự kết hợp hài hoà giữa hoạt động thích ứng ngắn hạn và dài hạn, nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả tối đa các nguồn lực sẵn có, đồng thời nâng cao, phát triển nguồn lực mới trong một tầm nhìn dài hạn để ứng phó với BĐKH.
Ví dụ như ở cấp độ cộng đồng, đối với giải pháp ngắn hạn cần có các hỗ trợ khẩn cấp thông qua hoạt động chuẩn bị ứng phó và cứu trợ thiên tai, về lâu dài cần nâng cao năng lực thích ứng ở các vùng bị ảnh hưởng (ví dụ thực tế như lựa chọn chất liệu/độ cao phù hợp trong xây dựng nhà ở ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long). Phân loại theo ngành kinh tế Đây là phương pháp phân loại được sử dụng phổ biến. Các chiến lược thích ứng với BĐKH thường được xây dựng theo ngành kinh tế và vùng kinh tế. Đối với mỗi ngành kinh tế, hoạt động thích ứng cần được thực hiện kết hợp các hành động đối phó trước mắt và Chương 1.
Kiến thức cơ bản về thích ứng và giảm nhẹ với biến đổi khí hậu 25 chiến lược phát triển lâu dài. Các hoạt động thích ứng theo ngành thường bao gồm các thay đổi về mặt kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, nâng cao hoạt động quản lý, cơ chế chính sách và quy hoạch. Một số ví dụ của các hoạt động thích ứng trong ngành nông nghiệp chẳng hạn như thay đổi giống cây trồng, đa dạng hoá chủng loại cây trồng, thay đổi kỹ thuật canh tác, tăng cường hệ thống tưới tiêu, gia tăng cường độ sản xuất, hoặc áp dụng bảo hiểm nông nghiệp. Tuy nhiên, để hoạt động thích ứng trong ngành nông nghiệp có hiệu quả thì cần kết hợp các hoạt động thích nghi trước mắt với các chiến lược, kế hoạch lâu dài chẳng hạn như áp dụng công nghệ mới, nâng cao quản lý nguồn nước, đầu tư và tích luỹ vốn, nâng cấp hệ thống thương mại nông nghiệp bao gồm hệ thống thu mua, phân phối và lưu trữ sản phẩm, thay đổi quy hoạch sử dụng đất phù hợp với điều kiện BĐKH.
Đối với ngành lâm nghiệp thì hoạt động thích ứng chủ yếu tập trung vào việc đẩy mạnh thực hiện kỹ thuật chặt tỉa trong khai thác rừng, khuyến khích các hoạt động kết hợp nông lâm, phát triển sản xuất bền vững, mở rộng diện tích rừng thông qua chính sách thuế, phát triển các chính sách quản lý môi trường, thay thế dầu thô bằng sinh khối trong sản xuất năng lượng, khuyến khích sử dụng sản phẩm rừng lâu năm, cung cấp tín dụng ưu đãi cho các hoạt động trồng cây gây rừng, thực hiện bảo tồn năng lượng thông qua quy hoạch trồng cây đô thị, giảm nhẹ tình trạng suy kiệt của rừng tự nhiên, kiểm soát hiệu ứng ô nhiễm không khí đối với rừng, khuyến khích sử dụng lâm sản thay thế vật liệu xây dựng, đẩy nhanh quy hoạch rừng trên đất rừng tự nhiên, xây dựng tiềm lực tổ chức rừng tự nhiên cũng như rừng Nhà nước trong quản lý rừng. Phân loại theo phương thức thực hiện và bản chất của chiến lược - Nhóm các chiến lược quản lý bao gồm các giải pháp xây dựng chính sách và nâng cao năng lực thể chế từ trung ương đến địa phương. Đây là một trong những công tác quan trọng đối với hoạt động thích ứng với BĐKH. Ở từng địa phương/ vùng/ khu vực cần có các chính sách đặc biệt để tăng cường khả năng thích ứng cho 26 GIÁO TRÌNH THÍCH ỨNG VÀ GIẢM NHẸ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU những đối tượng bị tổn thương cao (người nghèo, các ngành kinh tế quan trọng.) như các chế độ bảo hiểm an sinh xã hội cho người nghèo (các chương trình việc làm; các trợ cấp tiền mặt, các trợ cấp kinh phí khi có khủng hoảng, các trợ cấp liên quan đến bảo hiểm); các chính sách quản lý bền vững tài nguyên đất ngập nước; bảo vệ và khôi phục hệ sinh thái rừng.
Bên cạnh đó, các yếu tố thích ứng với BĐKH cần được lồng ghép vào chính sách phát triển kinh tế xã hội để đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia. Để đạt được mục tiêu giảm mức độ tổn thương do BĐKH, cần ban hành các chính sách để đưa nội dung đánh giá TDBTT của các đối tượng như các ngành kinh tế - xã hội (nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản, du lịch, giao thông vận tải…); các loại tài nguyên (nước, khoáng sản, đất ngập nước…); các chiến lược giảm thiệt hại các thiên tai liên quan đến BĐKH (bão, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn…) cũng như các đối tượng khác vào trong nội dung quy hoạch, phát triển của các đối tượng tương ứng. Chẳng hạn như ở Việt Nam, tổ chức Liên hiệp quốc và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cùng vạch ra chiến lược toàn diện nhằm giảm nguy cơ thiên tai ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long dựa trên việc đánh giá TDBTT của các khu dân cư và vùng sinh thái do BĐKH. Hoạt động xây dựng chính sách thường mang tính chất dự kiến nhiều hơn là tính thực thi do đó nó cần phải mềm dẻo và linh hoạt để phù hợp với điều kiện thực tế biến động, đồng thời tạo ra lợi ích/ hiệu quả thực hiện cao hơn so với chi phí đầu tư ban đầu.
IPCC cũng khuyến cáo các quốc gia cần phải cải thiện năng lực hoạch định chính sách, bảo đảm các chính sách thích ứng có khả năng đáp ứng được với điều kiện không ổn định của các kịch bản BĐKH trong tương lai. Để hoạch định được chính sách thích ứng thành công cần đầy đủ thông tin để hoạch định, cơ sở hạ tầng ứng phó với BĐKH, bảo hiểm để quản lý rủi ro xã hội và xóa đói giảm nghèo và các thể chế quản lý rủi ro. Trong đó, thông tin như quan trắc, dự báo thời tiết, được xem như là sức mạnh trong công tác hoạch định thích ứng với BĐKH (IPCC 2007) [1. Kiến thức cơ bản về thích ứng và giảm nhẹ với biến đổi khí hậu 27 - Nhóm chiến lược quy hoạch được xây dựng dựa trên kết quả đánh giá mức độ tổn thương của các đối tượng bị tổn thương cụ thể như các ngành kinh tế, các loại tài nguyên hay tập hợp các đối tượng thuộc khu vực/ cộng đồng chịu tác động của BĐKH.
Đánh giá mức độ tổn thương do BĐKH là quá trình đánh giá được tiếp cận tổng hợp, tương tác giữa các yếu tố gây tổn thương (tác động của BĐKH), các đối tượng bị tổn thương (các đối tượng được đưa vào quy hoạch) và xét đến khả năng ứng phó của các đối tượng với BĐKH. Tùy theo mức độ tổn thương (cao hay thấp) để có thể đề xuất, lựa chọn các hình thức phát triển, bảo vệ và bảo tồn theo hướng phát triển bền vững. Kết quả quy hoạch đặc biệt có ý nghĩa hơn khi được dựa trên kết quả dự báo mức độ tổn thương do BĐKH trong tương lai. - Nhóm chiến lược tài chính bao gồm những tính toán chi phí cho hoạt động đầu tư nhằm gia tăng khả năng thích ứng và giảm nhẹ BĐKH.
Nguồn tài chính đầu tư nhằm tăng cường khả năng ứng phó với BĐKH được định hướng theo các nhóm đầu tư phát triển ứng phó với ĐBKH, điều chỉnh các chương trình xóa đói giảm nghèo phù hợp với BĐKH, củng cố hệ thống ứng phó với thiên tai liên quan đến BĐKH (Theo Báo cáo Phát triển con người 2007/2008) [1. Trong đa số hoạt động thích ứng, chi phí đầu tư thường vượt xa chi phí thiệt hại do BĐKH gây ra. Ước tính đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở Đồng bằng sông Cửu Long (gia cố hệ thống cấp thoát nước, đê đập xung quanh khu vực dân cư và các vùng nông nghiệp) khoảng 1,3 tỷ đô trong giai đoạn 2010 - 2030.