mở đầu quá trình giao tiếp. Ở giai đoạn này giáo viên cần gây ấn tượng ban đầu tốt đẹp với học sinh. Tổ chức nhóm lớp tạo điều kiện thuận lợi cho giao tiếp sư phạm: trang trí lớp học đẹp, thoáng, sáng, phù hợp với độ tuổi học sinh, thái độ của giáo viên gần gũi, cởi mở chân thành nhưng nghiêm túc. - Giai đoạn 3: Giai đoạn triển khai quá trình giao tiếp thông qua việc tổ chức hoạt động giảng dạy và giáo dục.
Tài liệu giảng dạy học phần Giao tiếp sư phạm 16 Ở giai đoạn này cần chú ý: Lới nói của giáo viên phải rõ ràng, rành mạch, ngắn gọn, dễ hiểu. Thái độ dứt khoát, luôn khẳng định những cái đúng của từng học sinh, của nhóm, lớp, nhận xét cụ thể và tế nhị về thiếu sót của học sinh nhằm giúp các em điều chỉnh, tránh áp đặt, chụp mũ. Yêu cầu khen ngợi và trách phạt trên nền tảng yêu thương học sinh thật sự qua lời nói, cử chỉ, điệu bộ… sẽ tạo ra hiệu quả cao trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh. Tạo bầu không khí dân chủ trong khuôn khổ kỷ luật của lớp học giúp học sinh mạnh dạn giao tiếp, trao đổi với giáo viên.
Tạo hứng thú học tập. Từ đó giúp học sinh chủ động sáng tạo trong lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng. - Giai đoạn 4: Giai đoạn kết thúc quá trình giao tiếp. Giáo viên phân tích hệ thống giao tiếp đã được thực hiện để rút kinh nghiệm và xây dựng mô hình giao tiếp cho hoạt động tiếp theo.
Kỹ năng giao tiếp sư phạm Kỹ năng giao tiếp sư phạm là toàn bộ những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ phối hợp hài hòa, hợp lý của giáo viên nhằm đảm bảo cho sự tiếp xúc với học sinh đạt kết quả trong hoạt động sư phạm với sự tiêu hao năng lượng tinh thần, cơ bắp ít nhất trong điều kiện thay đổi. Nhóm các kỹ năng định hướng giao tiếp sư phạm: Kỹ năng định hướng là khả năng dựa vào sự biểu lộ bên ngoài như sắc thái, biểu cảm, ngữ điệu, thanh điệu của ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ, động tác. mà phán đoán chính xác những trạng thái tâm lý bên trong của chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp. Nhóm kỹ năng này được chia thành hai kỹ năng sau: - Kỹ năng đọc trên nét mặt, cử chỉ, hành vi, lời nói.
- Kỹ năng chuyển từ sự tri giác bên ngoài vào nhận biết bản chất bên trong của nhân cách. Kỹ năng đọc trên nét mặt, cử chỉ, hành vi, lời nói Tài liệu giảng dạy học phần Giao tiếp sư phạm 17 Qua quá trình quan sát những biểu hiện bên ngoài như: nét mặt, cử chỉ ngữ điệu, biểu cảm của lời nói mà giáo viên có thể phát hiện chính xác và đầy đủ thái độ, trạng thái tâm lý bên trong của học sinh. Chẳng hạn: Khi sợ hãi thì mặt người ta trở nên tái nhợt, hành động bị gò bó. Khi tức giận mặt đỏ bừng.
Ngôn ngữ và ngữ điệu của ngôn ngữ cũng thể hiện tính cách, trí tuệ, tình cảm ý chí của con người, qua đó ta cũng có thể biết được người đó có tính chủ động hay thụ động, người đó là chân thật hay giả dối. nó đều in dấu trong giọng nói và nhịp điệu của lời nói. Ví dụ: Khi xúc động thì giọng nói hổn hển, lời nói ngắt quãng. Khi vui vẻ tiếng nói trong trẻo, nhịp nói nhanh.
Khi buồn giọng trầm và nhịp chậm, khi ra lệnh thì giọng cương quyết sắc gọn. Những động tác diễn cảm không chỉ biểu hiện ở các cơ mặt, mà nó còn biểu hiện ở toàn bộ các cơ bắp khác trong cơ thể như ta thường mắm môi, nắm tay khi tức giận.hoặc khi nói về ánh mắt thường thể hiện những cảm xúc nội tâm của con người. Ví dụ: Khi ưu tư ánh mắt đăm đăm xa vắng cho thấy người đó đang nghĩ ngợi mông lung về chuyện gì đó. Người bạn đang nói chuyện mà có ánh mắt như vậy thì không nghe những gì bạn đang nói.
Khi nghi ngờ: lông mày nhướn lên, ánh mắt nhìn hơi nghiêng xuống cầu mũi. Người có ánh mắt này muốn “Bạn hãy giải thích việc này rõ ràng cho tôi”. Một công cụ truyền cảm nữa là nụ cười. Khả năng biểu cảm của nó cũng rất phức tạp.Việc tri giác những biểu hiện bên ngoài là cần thiết, song ñiều quan trọng hơn là biết dựa vào đó để nhận xét, đánh giá và phán đoán đúng nội tâm của đối tượng giao tiếp.
Nghĩa là biết chuyển từ sự tri giác bên ngoài để nhận biết được bản chất bên trong của nhân cách. Nhóm kỹ năng định hướng trước khi tiếp xúc với học sinh. Đó là một thói quen khi tiếp xúc với một học sinh nào đó, cần có những thông tin cần thiết về em đó. Những thông tin này rất cần thiết giúp thầy cô giáo “ phác thảo chân dung ” con người của em học sinh, mình cần tiếp xúc.
Định hướng trước khi tiếp xúc là để có một mô hình tâm lý về con người học sinh mà mình sẽ tiếp Tài liệu giảng dạy học phần Giao tiếp sư phạm 18 xúc. Dự đoán trước những phản ứng sẽ xảy ra của học sinh trong quá trình giao tiếp, từ đó giáo viên có cách ứng xử phù hợp để đạt hiệu quả giao tiếp cao. Định hướng bắt đầu tiếp xúc: khi tiếp xúc với học sinh, thầy cô giáo gặp mặt trực tiếp với các em. Tuy đã có dự đóan trước, nhưng đó chỉ là mô hình giả định.
Sự dự kiến trước có thể trùng khớp, có thể chỉ đúng một số chi tiết, có thể sai nhiều chi tiết. Do đó, để tránh những định kiến, những sai lầm trong giao tiếp , giáo viên phải linh hoạt, mềm dẻo, khi tiếp xúc phải quan sát học sinh để kiểm nghiệm đúng, sai của mô hình giả định, từ đó giúp cho sự giao tiếp của giáo viên và học sinh đạt kết quả cao. Định hướng trong quá trình giao tiếp. Thực chất là sự thành lập các thao tác trí tuệ cơ động, linh hoạt của chủ thể giao tiếp cho phù hợp với những thay đổi liên tục của thái độ, hành vi, cử chỉ, nội dung ngôn ngữ.
mà đối tượng giao tiếp phản ứng trong quá trình giao tiếp. Có thể định hướng trước và thời gian đầu tiếp xúc giống nhau, nhưng trong quá trình giao tiếp do nhiều nguyên nhân khác nhau, đối tượng giao tiếp thay đổi quan điểm, chính kiến, thái độ, nhu cầu. thì chủ thể giao tiếp phải thay đổi hướng tiếp xúc để đạt mục đích của quá trình giao tiếp. Kỹ năng chuyển từ sự tri giác bên ngoài vào nhận biết bản chất bên trong của nhân cách Sự biểu hiện các trạng thái tâm lý của con người qua ngôn ngữ và điệu bộ rất phức tạp: Cùng một trạng thái xúc cảm lại có thể được bộc lộ ra bên ngoài bằng ngôn ngữ, điệu bộ khác nhau.
Ngược lại, sự biểu hiện bên ngoài như nhau nhưng họ lại có tâm trạng khác nhau. Ví dụ: Người giáo viên phải biết kìm chế tâm trạng của mình để tạo ra không khí vui vẻ trong giờ lên lớp. Những chiến sĩ tình báo trong một số hoàn cảnh nào đó không được phép biểu lộ tình cảm thực ra bên ngoài. Thực chất kỹ năng định hướng giao tiếp là sự phác thảo chân dung tâm lý Tài liệu giảng dạy học phần Giao tiếp sư phạm 19 của cá nhân hay tập thể học sinh và phụ huynh học sinh mà người giáo viên phải tiếp xúc để thực hiện mục đích giáo dục.
Việc phác thảo chân dung tâm lý về đối tượng giao tiếp càng đúng, càng chính xác thì hoạt động giao tiếp càng đạt hiệu quả cao. Nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp gồm hai bước sau 5. Định hướng trước khi tiếp xúc. - Đây là thói quen cần thiết trước khi tiếp xúc với bất kỳ đối tượng giao tiếp nào.Đ Usinxki đã nói: Muốn giáo dục con người về mọi mặt, thì phải hiểu con người về mọi phương diện.
Trước khi tiếp xúc với học sinh thì giáo viên cần có thông tin về học sinh đó (như tên học sinh, lớp, kết quả học tập, đạo đức, hoàn cảnh gia đình .) - Định hướng trước khi giao tiếp là xây dựng mô hình giả định về đối tượng giao tiếp. Trên cơ sở đó giáo viên dự đoán phương án ứng xử khác nhau, lường trước được những phản ứng có thể có của đối tượng giao tiếp để có cách ứng xử thích hợp. Vì vậy, giáo viên cần có thái độ thiện cảm, tự tin, luôn tạo cảm giác an toàn cho học sinh, để các em bộc lộ trung thực những đặc điểm tâm lý của mình. Định hướng trong quá trình giao tiếp - Định hướng là sự thành lập các thao tác trí tuệ, tư duy, vốn sống kinh nghiệm cá nhân một cách linh hoạt, mềm dẻo.ở chủ thể giao tiếp, đồng thời biểu hiện ra bên ngoài phản ứng hành vi, điệu bộ, cách nói năng phù hợp với thay đổi về thái độ hành vi cử chỉ, nội dung ngôn ngữ mà học sinh phản ứng trong quá trình giao tiếp.
- Định hướng trước khi giao tiếp mới chỉ xây dựng được mô hình giả định về học sinh đó. Còn định hướng trong quá trình giao tiếp là xây dựng mô hình đích thực về đối tượng giao tiếp. Nên khi tiếp xúc với học sinh có thể xảy ra tình huống: mô hình tâm lý giả định trùng khớp hoặc chỉ sai một số nét so với đối tượng thực; hoặc cũng có thể không giống với đối tượng thực. Chính sự gặp gỡ trực tiếp là thực tiễn kiểm nghiệm sự đúng sai của mô hình giả định.
Từ đó, giáo Tài liệu giảng dạy học phần Giao tiếp sư phạm 20 viên sẽ nhanh chóng điều chỉnh để có chân dung tâm lý chính xác hơn về đối tượng giao tiếp. * Nhóm kỹ năng nhận biết những dấu hiệu bên ngoài của học sinh: Nhóm kỹ năng nhận biết những dấu hiệu bên ngoài của học sinh được khái quát thành hai dấu hiệu: Nhóm dấu hiệu bên ngoài. Được nhận biết bằng dấu hiệu cảm tính, những dấu hiệu này như: chiều cao, dáng, đầu, tóc, răng, miệng, tay chân, quần áo. giới tính, lứa tuổi.
Nhóm dấu hiệu về nhân cách: tính tình, trí tuệ, xúc cảm, tình cảm, đạo đức. Kỹ năng nhận biết những dấu hiệu bên ngoài là nhằm xây dựng được “mô hình nhân cách” chính xác về đối tượng giao tiếp để quá trình giao tiếp đạt hiệu quả cao.