Chương 1 LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC VĂN HÓA GIAO TIẾP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA MÔN TIẾNG VIỆT 1. Khái niệm cơ bản của đề tài 1. Văn hóa Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Khi bàn về văn hóa, trong cuốn Hồ Chí Minh toàn tập, nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, năm 2000, tập 3, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn”. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã toát lên cái nhìn toàn diện, sâu sắc về nguồn gốc lịch sử, sự biểu hiện của văn hóa trong lối sống và toàn bộ sinh hoạt của con người [19]. Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, là biểu hiện trình độ của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp là tổng thể những hệ thống biểu tượng chi phối cách ứng xử và giao tiếp của mỗi cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có đặc thù riêng. Văn hóa bao gồm hệ thống những giá trị để đánh giá một sự việc, hiện tượng (đẹp hay xấu, đạo đức hay vô luân, phải hay trái, đúng hay sai…) theo cộng đồng ấy. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và Đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hóa - Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử" [39]. Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa và Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả cho rằng: Văn hóa - vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó có văn hóa [10].
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1996, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [27]. Trong cuốn Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp tiếng Việt, nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, xuất bản năm 2009, PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt đưa ra định nghĩa về văn hóa: Văn hóa là toàn bộ những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người sáng tạo hoặc tái tạo lại từ tự nhiên và từ trong quá khứ [12]. Trên đây là một số định nghĩa tiêu biểu về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau, chúng tôi lấy khái niệm văn hóa của PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt làm cơ sở nghiên cứu. Văn hóa giao tiếp Văn hóa giao tiếp là một bộ phận trong tổng thể văn hóa nhằm chỉ quan hệ giao tiếp có văn hóa của mỗi người trong xã hội (giao tiếp một cách lịch sự, thái độ thân thiện, cởi mở, chân thành, thể hiện sự tôn trọng nhau), là tổ hợp của các thành tố: lời nói, cử chỉ, hành vi, thái độ, cách ứng xử… Ngay từ khi con người mới sinh ra, họ đã có nhu cầu giao tiếp để thỏa mãn những yêu cầu của bản thân.
Một đứa trẻ vừa chào đời sẽ cất tiếng khóc. Đây có lẽ là sự giao tiếp đầu tiên khi đứa trẻ đó sinh ra.Chính con người làm xuất hiện, duy trì, phát triển giao tiếp và trở thành sản phẩm của giao tiếp. Nhờ có giao tiếp, con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội, lĩnh vực văn hóa 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xã hội, chuẩn mực xã hội đồng thời thông qua giao tiếp, con người đóng góp năng lực của mình vào kho tàng chung của nhân loại. Từ quá trình giao tiếp, con người sẽ có cách nhìn nhận về nhau, hiểu ý nhau, nên từ đó mỗi người sẽ tự điều chỉnh, điều khiển nhận thức, hành vi của mình để phù hợp với những quy phạm đạo đức, chuẩn mực xã hội, các quan hệ xã hội.
Song song với hoạt động giao tiếp, con người sẽ tự động tiếp thu tri thức về nền văn hóa, xã hội, lịch sử và chuyển hóa chúng thành kinh nghiệm, vốn sống cho bản thân. Kinh nghiệm của cá nhân tạo thành và phát triển chính trong đời sống tâm lí, góp phần vào sự phát triển xã hội. Không có sự giao tiếp giữa người với người, với mọi người xung quanh thì chúng ta không biết cư xử sao cho đúng mực. Chẳng hạn như một em học sinh đầu cấp tiểu học, tuy còn nhỏ nhưng em đã được học tập tại trường, giao tiếp với cha mẹ, thầy cô, bạn bè xung quanh trường lớp của em vì thế em học hỏi được nhiều thứ: em biết mình cần phải chào hỏi lễ phép khi gặp thầy cô, cha mẹ, ông bà hay người lớn tuổi; đến trường em phải biết gọi “bạn” xưng “tôi” với những người bạn đồng trang lứa; về nhà em biết mình phải vâng lời người lớn trong gia đình, nghe lời thầy cô giáo khi học ở trường… Văn hóa giao tiếp là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách.
Văn hóa giao tiếp đã, đang và chắc chắn sẽ trở thành công cụ thiết yếu trong cuộc sống con người; là một loại nghệ thuật mà ai phác họa được nhiều nhất thì người đó sẽ sớm vươn tới thành công, nâng cao giá trị đích thực của bản thân, khẳng định vị trí của mình trong xã hội. Giáo dục văn hóa giao tiếp Giáo dục văn hóa giao tiếp là việc cần thiết và cấp bách, nhất là trong xã hội và môi trường giáo dục của chúng ta hiện nay. Nhìn xa hơn và xét trong một bối cảnh rộng hơn, văn hóa giao tiếp chỉ là một phương diện trong toàn bộ hoạt động giao tiếp của con người. Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là hình thành con người - giao tiếp, tức con người có năng lực giao tiếp bao gồm giao tiếp với người khác và giao tiếp với chính mình.
Cái gốc trong văn hóa giao tiếp của 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con người - giao tiếp ấy chính là sự phong phú của đời sống tinh thần và những giá trị đạo đức mà mỗi cá nhân có được. Ngày nay, chúng ta đang sống trong thời đại mà sự giao tiếp, thông cảm của con người với nhau đang đứng trước những thử thách rất lớn. Giao tiếp có quan hệ chặt chẽ với giáo dục. Xét trên phương diện nào đó, giáo dục chính là giao tiếp.
Không có giao tiếp thì không có giáo dục. Trong giáo dục ít nhất phải có hai cá thể khác nhau, trước khi muốn tác động hay giáo dục, hai cá thể này phải giao tiếp với nhau. Mức độ giao tiếp cũng như hiệu quả giao tiếp tùy thuộc vào từng hình thức giáo dục và tính chất của sự giao tiếp. Giao tiếp không chỉ là hình thức, phương tiện mà còn là nội dung quan trọng của giáo dục Trong quá trình hình thành con người và phát triển xã hội, nhân loại đã tích lũy một kho tàng phong phú những công cụ giao tiếp từ đơn giản đến phức tạp, những qui tắc ứng xử, xã giao trong đời sống hàng ngày cũng như trong nghi lễ.
Đó là văn hóa giao tiếp của một cộng đồng hay của xã hội. Mỗi cá nhân lớn lên, muốn tồn tại và phát triển phải nắm được những công cụ, qui tắc ấy, hay nói cách khác - phải hiểu được “ngôn ngữ” giao tiếp của cộng đồng. Mức độ nắm bắt và sử dụng thành thạo những công cụ và qui tắc giúp phản ánh trình độ văn hóa giao tiếp hay tính chất văn hóa trong hành động giao tiếp của mỗi cá nhân. Biết ăn nói, cư xử có văn hóa cũng là một hành vi thẩm mĩ, góp phần tạo nên vẻ đẹp, sự dễ mến của con người.
Tuy nhiên, một hành vi giao tiếp có văn hóa ít nhiều phản ánh một nét nào đó thuộc về phẩm chất đạo đức của con người. Vì thế, người yêu chuộng cái đẹp, cư xử có văn hóa ít có khả năng làm điều ác, điều xấu là vì vậy! Các phương tiện, hình thức giao tiếp như hệ thống kí hiệu, biểu trưng, hành vi phi ngôn ngữ, ngôn ngữ, nghệ thuật, internet là kết quả sáng tạo của 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân loại, tạo thành vốn văn hóa giao tiếp của con người. Càng nắm được các phương tiện này con người càng có khả năng giao tiếp nhiều hơn, sâu hơn và rộng hơn. Giáo dục ngôn ngữ cũng vậy.
Bên cạnh hành vi phi ngôn ngữ, khả năng sử dụng ngôn ngữ là một tiêu chí quan trọng nói lên trình độ văn hóa giao tiếp của mỗi người. Hiện nay, sự xuống cấp của văn hóa giao tiếp bộc lộ rõ nhất trong việc sử dụng tiếng Việt. Nói tục, chửi thề là một chuyện, nhưng quan trọng hơn, một bộ phận khá lớn thanh thiếu niên không nắm vững tiếng mẹ đẻ, không có khả năng diễn đạt suy nghĩ của mình, từ cách viết một lá đơn xin phép đơn giản cho đến những văn bản phức tạp. Tiếng nói là hồn của con người, ngôn ngữ là hồn của dân tộc.
Không biết diễn tả điều mình cảm, mình nghĩ để người khác hiểu thì không thể giao lưu, thông cảm với cả thế giới. Việc dạy tiếng Việt trong nhà trường hiện nay cần đảm bảo: học sinh phải viết đúng cũng như có thể sử dụng tiếng Việt một cách thành thạo. Hiện nay, các trường học đôi khi dạy văn ưu tiên hơn dạy tiếng, dẫn đến tình trạng học sinh có thể có cảm xúc nhưng lại không biết cách diễn đạt. Thiết nghĩ văn phải bắt đầu từ tiếng, bắt đầu từ cái đúng rồi mới đến cái hay.