Chương 1: Tầm quan trọng và vai trò của công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cảnh sát phòng cháy, chữa cháy ở Việt Nam hiện nay Chương 2: Thực trạng, phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cảnh sát phòng cháy, chữa cháy ở Việt Nam hiện nay 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TẦM QUAN TRỌNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CẢNH SÁT PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Tầm quan trọng của nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy 1. Các khái niệm cơ bản và các quy định về tổ chức của nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy Phát triển con người vừa là động lực vừa là mục tiêu cao nhất trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia và nó đã trở thành xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới. Thực chất của việc phát triển NNL là quá trình làm cho con người thích ứng được với các yêu cầu mới của xã hội, nâng cao hiệu quả công việc, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ, chức năng của mình.
Xét đến cùng, để phát triển NNL có hiệu quả, phục vụ tốt cho quá trình phát triển đất nước thì sự nghiệp này cần được đưa vào trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội; hơn nữa, phải đặt ở vị trí trung tâm của mọi chiến lược chung của đất nước. Đối với Việt Nam, trên cơ sở nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò và ý nghĩa quan trọng của công tác xây dựng NNL trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, trong đó ngoài việc phát triển mạnh NNL của lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thì hoạt động phát triển NNL tham gia vào quá trình gìn giữ, bảo vệ con người và thành quả cho quá trình lao động đó cũng đang được đặt ra và cần phải đổi mới, mà lực lượng cảnh sát PCCC là một bộ phận quan trọng, đặc thù trong lực lượng này [25, 47]. Để nhìn nhận và khẳng định tầm quan trọng, vai trò và vị trí của NNL cảnh sát PCCC trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cũng như việc giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo an toàn cháy, nổ và bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân,.chúng ta phải có những nhận thức chung về nguồn lực, NNL và NNL cảnh sát PCCC. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Khái niệm nguồn lực, nguồn nhân lực, nguồn nhân lực cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy - Khái niệm nguồn lực: cho đến nay các công trình nghiên cứu, các bài viết về nguồn lực rất phong phú, dưới nhiều hình thức và quan điểm khác nhau. Qua tìm hiểu nguồn lực có thể được hiểu dưới dạng tổng quát như sau: nguồn lực là toàn bộ các yếu tố vật chất lẫn tinh thần đã, đang và sẽ tạo ra sức mạnh cho sự phát triển và trong những điều kiện thích hợp nó sẽ thúc đẩy quá trình cải biến xã hội của một quốc gia dân tộc. Hơn nữa, nguồn lực có phạm vi bao quát rộng, hàm chứa không chỉ những yếu tố mới dưới dạng sức mạnh tiềm năng; không chỉ nói lên sức mạnh mà còn chỉ ra nơi bắt đầu, nơi phát sinh hoặc nơi cung cấp sức mạnh; phản ánh không chỉ số lượng mà còn cả chất lượng các yếu tố, đồng thời nói lên sự biến đổi không ngừng của các yếu tố đó [26, 60]. Đồng thời, nguồn lực được hiểu “là tổng thể vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường.ở cả trong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định”.
Theo quan điểm của các nhà biên soạn Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học, do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì cho rằng: nguồn lực “là hệ thống các nhân tố mà mỗi nhân tố đó có vai trò riêng nhưng có mối quan hệ với nhau tạo nên sự phát triển của sự vật, hiện tượng nào đó” [9, 271]. Việc phân loại nguồn lực tuỳ thuộc vào cách xác định các tiêu chí và xem xét chúng trong mối quan hệ xác định: theo quan hệ chủ thể, khách thể thì có nguồn lực chủ quan (con người) và nguồn lực khách quan (tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, vốn trong nước và nước ngoài.); theo quan hệ bên trong (nội lực) bao gồm con người, vốn trong nước, cơ sở vật chất-kỹ thuật, tài nguyên thiên nhiên, vị trí điạ lý.) - bên ngoài (ngoại lực) có vốn, kinh nghiệm quản lý, tài nguyên thiên nhiên, con người, công nghệ, thị trường. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ những nhìn nhận đó, nguồn lực được hiểu “là toàn bộ các yếu tố vật chất lẫn tinh thần đã, đang sẽ tạo ra sức mạnh cho sự phát triển và trong những điều kiện thích hợp thúc đẩy quá trình cải biến xã hội của một quốc gia, dân tộc” Như vậy, các tiêu chí để xem xét đánh giá về nguồn lực rất phong phú và đa dạng, các nguồn lực cũng rất phong phú, trong đó nguồn nhân lực được coi là nguồn lực quan trọng nhất và có tác động đến nhiều nguồn lực khác. - Khái niệm nguồn nhân lực: Khái niệm NNL được sử dụng vào những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á và giờ đây nó được sử dụng rộng rãi trên thế giới.
Ở Việt Nam, khái niệm này bắt đầu được sử dụng khoảng thập niên 90 của thế kỷ XX, tuy nhiên, đến nay vấn đề NNL đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau và cơ bản chưa hoàn toàn thống nhất. Vấn đề NNL được phát biểu dưới hai khía cạnh sau: Nghiên cứu nguồn nhân lực dƣới góc độ là yếu tố có vai trò quan trọng tham gia vào quá trình thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Để phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia phải dựa trên nhiều nguồn lực: nguồn lực con người, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên…trong các nguồn lực đó thì nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất và nó tạo ra động lực cho sự phát triển nói chung cho sự phát triển của các nguồn lực khác. Bởi vì, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên là những nguồn lực tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đất nước. Nhưng thực tế lại cho thấy chúng lại phụ thuộc vào khả năng khai thác của con người.
Ở một số nước, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi và là nhân tố làm cho đất nước giàu mạnh; nhưng ở một số nước khác, với điều kiện tự nhiên cũng tương tự, hoặc còn thuận lợi hơn mà đất nước đó ngày càng kiệt quệ, nghèo nàn và tài nguyên ngày càng cạn kiệt. Nguyên nhân của 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tình trạng đó là do việc phát huy chưa tốt nguồn lực con người. Mặt khác, tiền tệ cũng là nhân tố quan trọng cho bất cứ sự phát triển của một quốc gia nào. Nhưng như C.Mác đã khẳng định tiền chỉ trở thành tư bản thông qua sức lao động của công nhân.
Khẳng định NNL có vị trí quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội còn có các quan điểm sau: Theo nghĩa rộng, NNL được hiểu là nguồn lực con ngƣời (Human resources) của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Theo quan niệm của liên hợp quốc, cho rằng NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của đất nƣớc; Theo GS.TSKH Phạm Minh Hạc khẳng định, NNL là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là người lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là người lao động có kỹ năng (khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH” [19, 269].TS Dương Văn Thịnh cho rằng: “NNL là tổng thể những yếu tố quy định sức mạnh của con người trong quá trình con người họat động cải tạo tự nhiên và xã hội, là tổng thể số lượng dân, chất lượng con người, cơ cấu kết hợp con người, tính tổ chức kỷ luật của con người, truyền thống văn hóa, gia đình và hệ thống giáo dục mà con người có thể vận dụng vào trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội”[45, 40]. Cũng theo nghĩa này, các tác giả của chương trình khoa học – công nghệ cấp nhà nước: “Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” (Mã số KX 07) đã định nghĩa: “NNL được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc”[17, 19]. Đối với một số nhà khoa học của trường Đại học Kinh tế quốc dân khẳng định NNL thông 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua GD&ĐT là: “Hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình; là hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới thích hợp hơn trong tương lai; là hoạt động học tập vượt qua khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức hoặc phát triển khả năng nghề nghiệp của họ”[18, 47].
Qua các quan niệm trên thấy rằng, dù là có điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý thuận lợi, vốn, khoa học kỹ thuật.Nhưng nếu không biết phát huy tốt các khả năng của con người trong quá trình lao động thì những lợi thế trên cũng chỉ là ở dạng tiềm năng, nó chỉ có vai trò quan trọng khi chúng ta gắn nó với các hoạt động thực tiễn của xã hội. Theo nghĩa hẹp, NNL được hiểu như là nguồn lao động hay nguồn nhân lực xã hội, lực lượng lao động. Đó là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.