Chương 1. Giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông - Lý luận và thực tiễn. Các biện pháp giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919- 1945, lớp 12 trung học phổ thông. Thực nghiệm sư phạm.
16 z CHƢƠNG 1 GIÁO DỤC TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc 1. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc Trong quá trình từ thủa ấu thơ, trong quá trình hoạt động cách mạng đặc biệt từ năm 1911 ra đi tìm đường cứu nước, tư tưởng Hồ Chí Minh đã hình thành. Cho nên khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc nói riêng ta không thể không xem xét những nhân tố chủ quan và khách quan đã tác động đến sự hình thành tư tưởng của Người.
a/ Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Bước vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhiều sự kiện lịch sử dồn dập diễn ra báo trước một bước chuyển mình trong tình hình thế giới. Các nước đế quốc chủ nghĩa đua nhau tranh giành thuộc địa từ thế kỷ trước, đã hình thành việc phân chia mặt địa cầu, áp đặt ách thực dân lên hầu hết các lục địa Á, Phi, Mỹ la tinh. Việt Nam cũng nằm trong số những nước thuộc địa như vậy. Năm 1858, thực dân Pháp chính thức đặt bước chân xâm lược lên nước ta.
Nhân dân Việt Nam tiến hành đấu tranh chống Pháp xâm lược, nhưng với hiệp ước Patơnốt được ký kết và sự cáo chung của phong trào Cần Vương, thực dân Pháp đã về cơ bản hoàn thành việc xâm lược đất nước. Pháp bắt tay vào quá trình khai thác thuộc địa tại Việt Nam. Với việc thực hiện chia nước ta làm 3 xứ với 3 chế độ cai trị khác nhau nhằm thực hiện chính sách "chia để 17 z trị", đẩy mạnh việc khai thác và bóc lột tàn bạo sức người, sức của trên đất nước ta, thực dân Pháp đã chà đạp thô bạo nên nền độc lập của dân tộc Việt Nam, tước đoạt quyền sống, quyền làm người của đại bộ phận nhân dân Việt Nam. Do đó, trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, mâu thuẫn gay gắt nhất là mâu thuẫn dân tộc.
Đặc biệt, song song với mâu thuẫn chính yếu là mâu thuẫn dân tộc, trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ còn nổi lên vấn đề mâu thuẫn giai cấp. Dưới cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam đã có những biến chuyển sâu sắc. Để đảm bảo nền thống trị của mình, "Pháp không thủ tiêu chế độ bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến bản xứ mà ngược lại còn tìm mọi cách dung dưỡng và thoả hiệp nó, biến nó thành cơ sỏ xã hội vững chắc cho sự thống trị của chúng" [47, tr. Do đó, những giai cấp cũ còn tồn tại và ngày càng thể hiện những mâu thuẫn đối kháng gay gắt đó là giữa giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân.
Cùng đó, với cuộc khai thác thuộc địa của Pháp trên đất nước ta thì xã hội Việt Nam còn xuất hiện nhiều giai - tầng mới như: công nhân, tư sản, tiểu tư sản. Các giai cấp mới này ít nhiều có sự đối kháng và mâu thuẫn với nhau nhưng nhìn chung, trừ bộ phận ít ỏi bị phân hoá và theo Pháp thì tất cả đều cùng mâu thuẫn với một kẻ thù chung đó là: thực dân Pháp, kẻ đang bóc lột sức lao động và giày xéo đất nước của người Việt Nam. Như vậy, trong xã hội Việt Nam, thẳm đằng sâu sau những từ hoa mỹ mà thực dân Pháp dành cho người Việt Nam đó là về công lao khai hoá của người Pháp, rằng người Pháp mang đến "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" cho nhân dân một nước kém văn minh hơn thì sự thật phơi bày rõ ràng hơn bao giờ hết: dưới ách thống trị của thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam bị tước hết quyền sống, quyền làm người và do đó mâu thuẫn gay gắt nhất chính là mâu thuẫn dân tộc. Đây chính là nguồn gốc của rất nhiều phong trào đấu tranh sôi nổi của nhân dân Việt Nam.
18 z b/ Sự bế tắc con đường cứu nước Sống trong bối cảnh nước mất, nhà tan, tổ tiên cha ông bị giầy xéo, lòng tự tôn dân tộc, niềm kiêu hãnh của một đất nước bề dày truyền thống lịch sử, hàng loạt những phong trào đấu tranh sôi nổi của những người dân yêu nước đã diễn ra với những sắc thái và hình thức phong phú. Tuy nhiên, những phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tuy có diễn ra sôi nổi nhưng tất cả đều thất bại. Trước hết là phải kể dến những phong trào đấu tranh của các tầng lớp sĩ phu yêu nước. Họ đều là những nhà Nho, xuất thân có nguồn gốc khoa bảng, đọc nhiều Tứ thư ngũ kinh.
Đứng trước cảnh đất nước lầm than, những người như Trương Định, Hoàng Hoa Thám, Tôn Thất Thuyết… đã phất cao lá cờ khởi nghĩa dân tộc. Với cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám, tuy có kéo dài 13 năm và gây cho Pháp nhiều tổn thất nhưng do "Mang nặng cốt cách phong kiến lỗi thời nên không thể dẫn tới thắng lợi". Các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương tuy diễn ra sôi nổi, gây được tiếng vang lớn nhưng do nổ ra lẻ tẻ, thiếu tính liên kết giữa các vùng, miền, giữa các phong trào, lực lượng còn yếu, nhiều thiếu thốn về lương thực thực phẩm, vũ khí…. đặc biệt thiếu đường lối lãnh đạo nên cũng thất bại.
Sự thất bại của khởi nghĩa Yên Bái và phong trào Cần Vương với cuộc khởi nghĩa cuối cùng - khởi nghĩa Hương Khê - là sự cáo chung thất bại của hệ tư tưởng phong kiến trên con đường giải phóng dân tộc. Những năm đầu thế kỷ XX, luồng gió từ những "Tân văn", "Tân thư" đến từ đất nước Nhật Bản xa xôi hay đất nước láng giềng Trung Quốc đã thổi "hơi thở" mới cho phong trào cứu nước tại Việt Nam. Hệ tư tưởng khuynh hướng dân chủ tư sản xuất hiện với những người tham gia chủ yếu là những văn thân sĩ phu yêu nước thức thời. Đó là một thời kỳ sôi động với những phong trào yêu nước mang màu sắc văn hoá vào năm 1907 với sự thành lập Đông Kinh nghĩa thục - sáng lập bởi những nhà nho yêu nước như 19 z Phan Châu Trinh, Lương Văn Can … với mục đích "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh"; là phong trào Đông du của nhà yêu nước Phan Bội Châu; là sự kiện "Hà Thành đầu độc", "Cuộc vận động kháng thuế của nhân dân Trung Kỳ" (1908) của Việt Nam quang phục hội… Tuy nhiên, tất cả đều thất bại bởi con đường cứu nước chưa đúng đắn.
Như lời nhận xét của Hồ Chí Minh, con đường cầu viện Nhật Bản của Phan Bội Châu chẳng khác nào "đưa beo cửa trước, rước hùm của sau"; con đường cải cách ôn hoà của Phan Châu Trinh là cầu xin Pháp rủ lòng thương. Đó là những con đường cứu nước không thể đưa đất nước thoát khỏi đất lầm than. c/ Những nhân tố chính ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc Nhân tố đầu tiên: Những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trước hết là chủ nghĩa yêu nước Có người đã từng nói về lịch sử Việt Nam: nếu cho tôi vẽ hình lịch sử Việt Nam tôi sẽ vẽ thanh gươm và một dòng máu. Câu nói trên đã biểu lộ rõ hình ảnh môt đất nước, một dân tộc anh hùng với những năm tháng lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.
Hẳn chúng ta không bao giờ quên, vó ngựa xâm lăng của quân Mông - Nguyên đã từng khiến bao quốc gia Âu - Á khiếp sợ, vó ngựa đó đã từng quần thảo trên đất Đại Việt và hứa hẹn cho một thắng lợi tiếp theo trong chuỗi hành trình "chinh phục" các quốc gia của đế chế Mông - Nguyên. Nhưng cũng tại đây, vó ngựa quân đội quốc gia hùng mạnh đó phải chồn chân trước ý chí sắt đá, trước tinh thần đoàn kết bảo vệ độc lập dân tộc và sự thông minh, tháo vát của cả dân tộc Việt. Hội nghị Diên Hồng với sự hiệu triệu vua tôi, ba quân, tướng sĩ, thần dân với lời nói quyết liệt: "Sát thát" đã khiến vó ngựa Mông-Nguyên phải ba lần dừng bước. Khi cả một dân tộc đồng lòng chống giặc, đó sẽ là sức mạnh ngan cản bước tiến của quân thù dù đó là kẻ mạnh đến đâu.
Lịch sử Việt Nam còn chứng kiến một hội thề lịch sử như thế, đó hội thề của toàn dân tộc, hội thề của tinh thần yêu nước và 20 z ý chí quyết tâm bảo vệ bờ cõi tổ quốc - Hội thề Lũng Nhai - cuộc hội ngộ lịch sử của những tấm lòng hào kiệt, kiên trung và dám xả thân vì đất nước, hội thề của những con người lịch sử: Lê Lợi, Nguyễn Trãi và tướng sĩ ba quân. Chảy dài xuyên suốt cả một quá trình lịch sử dân tộc, chủ nghĩa yêu nước đã chứng minh được sức mạnh của nó đối với dân tộc, đây đã trở thành động lực, sức mạnh truyền thống, đạo lý làm người, niềm tự hào và là nhân tố hàng đấu trong bảng giá trị tinh thần của con người Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta.
Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước" [70, tr. Chính tinh thần yêu nước đã trở thành động lực chi phối mọi suy nghĩ, hành động suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh.