PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều cơ bản nhất; con người sống hạnh phúc là mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ tổ quốc. Chăm sóc sức khỏe không chỉ là nhu cầu cuả mỗi cá nhân mà nó còn là mục tiêu cho sự pháp triển của xã hội. Xã hội phát triển kéo theo các mặt khác của xã hội cũng phát triển, đặc biệt là nền văn hóa, nhất là đang trong quá trình hội nhập.
Nền văn hóa tác động nhiều mặt tới sự phát triển của con người nói chung và học sinh nói riêng. Bên cạnh những mặt tích cực cũng có những ảnh hưởng tiêu cực, vấn đề đang được xã hội quan tâm đó là sự du nhập của văn hóa phương Tây đã có ảnh hưởng tới học sinh THPT - Lứa tuổi đang có sự thay đổi mạnh mẽ về thể chất cũng như giới tính. Vì vậy vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh đang được nghành giáo dục quan tâm. Trong chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do chủ tịch hội đồng bộ trưởng Phạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái”.
Hiện nay, nhà trường nói chung, các trường THPT nói riêng đang từng bước tiến tới giáo dục toàn diện về kiến thức cũng như kỹ năng đối với học sinh của mình. Giáo dục SKSS là một phần trong những kiến thức ấy. Bởi lứa tuổi học sinh VTN là lứa tuổi có nhiều biến đổi về tâm lý và thể chất nhất. Tuy nhiên, đây là một vấn đề khá tế nhị trong môi trường học đườnghoặc bị coi là đơn giản (đến khi trưởng thành thì ai cũng biết, nói chi nhiều…), lại có phần ảnh hưởng của tập quán, truyền thống văn hóa-xã hội… do đó mà đơn phương các nhà trường sẽ gặp khó khăn trong giáo dục SKSS cho học sinh nếu không có sự kết hợp chặt chẽ với gia đình và xã hội.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, ở nước ta trẻ VTN chiếm khoảng 23,8% triệu người, tức là khoảng 31% dân số, đây là con số khá cao. Và con số này đang phải đối mặt với nhiều thách thức: mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây lan qua đường tình dục, nhiễm HIV, ma túy, cờ bạc, nghiện rượu… Theo thống kê của hội Kế hoạch hóa gia đình thì Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trong đó 20% thuộc lứa tuổi VTN. Trước tình hình đó, giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản nói chung và giáo dục SKSS trong nhà trường nói riêng trở nên vô cùng quan trọng và cần thiết.Nó trở thành một vấn đề cấp bách mà xã hội và các nhà giáo dục cần phải giải quyết.Đó là nhu cầu của các em và cũng chính là nhu cầu của xã hội hiện đại. Xuất phát từ những lý do nêu trên, học viên mạnh dạn chọn đề tài “Giáo dục sức khỏe sinh sản đối với học sinh THP Lý Thường Kiệt, quận Long Biên, thành phố Hà Nội” nhằm mục đích nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản và mong muốn đáp ứng đúng nhu cầu của học sinh trong việc cung cấp kiến thức SKSS.
Ý nghĩa của nghiên cứu Đề tài “Giáo dục sức khỏe sinh sản đối với học sinh THP Lý Thường Kiệt, quận Long Biên, thành phố Hà Nội”là việc vận dụng những kiến thức và kỹ năng chuyên ngành CTXH vào vấn đề thực tế. Đồng thời kiểm chức các lý thuyết xã hội học nói chung và các lý thuyết CTXH nói riêng như: Lý thuyết nhu cầu Maslow, lý thuyết xã hội hóa, lý thuyết vai trò và hệ thống. Kết quả nghiên cứu này sẽ mang lại ý nghĩa hết sức thực tế trong cuộc sống hàng ngày không chỉ đối với các em học sinh mà còn là lời cảnh báo thức tỉnh đến các bậc phụ huynh, các thầy cô trong nhà trường về cách giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THPT hiện nay. Người nghiên cứu đánh giá được thực trạng nhận thức của học sinh THPT về giáo dục giới tính và tìm hiểu nhu cầu giáo dục sức khỏe sinh sản của các em.Từ đó, gia đình, nhà trường và xã hội nhận thấy cần phải nâng cao hơn nữa vai trò của mình trong việc chăm lo đời sống sức khỏe cho trẻ vị thành niên.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3. Một số nghiên cứu về sức khỏe sinh sản vị thành niên Nghiên cứu SKSS VTN được tiến hành r ất sớm trên thế giới, nhất là ở các quốc gia phát triển, nhưng thường được gọi với những tên khác nhau, chẳng hạn như sức khỏe VTN hay giới tính, tình dục thanh thiếu niên. Từ sau hội nghị quốc tế về dân số và phát tri ển (ICPD) tại Cairo (tháng 4/1994), sau khi định nghĩa chính thức về SKSS được thống nhất phổ biến đến mọi quốc gia trên thế giới thì mối quan tâm của không chỉ các nhà khoa học, các nhà giáo dục, các nhà quản lý xã hội mà cả các bậc cha mẹ đối với vấn đề SKSS VTN được đẩy lên một trình độ mới.
Theo WHO hiện nay trên thế giới có khoảng 1/5 dân số thuộc tuổi VTN, như thế nghĩa là hiện đang có khoảng hơn 1 tỷ người đang ở tuổi VTN. Các kết quả nghiên cứu về lĩnh vực QHTD, nạo hút thai, sinh đẻ ở VTN trên thế giới gây nhiều điều bất ngờ và đáng lưu tâm. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 20 triệu ca nạo phá thai không an toàn. Theo UNFPA, hiện nay có khoảng 15 triệu VTN nữ sinh con, chiếm 10% số phụ nữ sinh con trên thế giới.
Mỹ là quốc gia có tỉ lệ nữ VTN mang thai sớm cao nhất ở các nước phát triển. Tại Mỹ có khoảng 20% số phụ nữ sinh nở trước tuổi 20 [26,tr. Các nghiên cứu cụ thể cho thấy, ở Châu Phi có thai ngoài d ự định dao động từ 50-90% trong số VTN chưa chồng và 25 – 40% trong số VTN có chồng, ở Kênia, số VTN có thai ngoài dự định trong nhóm chưa kết hôn là 74% so với nhóm đã kết hôn là 47%, còn ở Pêru số VTN có thai ngoài d ự định trong nhóm chưa kết hôn là 69% và nhóm kết hôn là 51%. Nhìn chung, số VTN mang thai ngoài dự định ở các nƣớc Mỹ - Latinh dao động từ 20-52%.
Với tình trạng mang thai ngoài d ự định như trên mỗi năm có tới 4,4 triệu ca nạo phá thai của VTN, đây là m ột trong những nguyên nhân cơ bản tàn phá SKSS VTN hiện nay [5,tr.11-20] Các số liệu tổng hợp về tình trạng VTN sinh con ngoài ý mu ốn ở một số khu vực có tỉ lệ cao là: Mỹ - Latinh (40 - 50%), Bắc Phi và Tây Á (15 - 23%), Ấn Độ và Pakistan (16%), Philippin, Bangladesh, Srilanka và Thailand (23 - 41%).11- 20] 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tình trạng QHTD sớm và m ắc các BLTQĐTD ở VTN là m ột nguy cơ mang tính toàn c ầu và th ực sự phải được báo động đỏ trong mọi quốc gia. QHTD sớm thường để lại hậu quả xã hội nghiêm trọng về mang thai, nạo hút thai ngoài ý mu ốn và các bệnh LTQĐTD, đặc biệt là mắc căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS. Một nghiên cứu cho thấy, VTN ở Mỹ, ở tuổi 15 có khoảng 27% nữ và 33% nam đã có QHTD, đến tuổi 17 tỉ lệ này tăng lên 50% và 66%. Nếu tính riêng trong nhóm VTN học sinh thì có đến 72% học sinh Mỹ có QHTD khi bước vào năm cu ối phổ thông trung học, trong số đó có tới 40% các học sinh ở tuổi 15.36] Theo ước tính của Văn phòng thông tin dân số Mỹ về SKSS VTN thì có ít nhất 80% số người bước vào tuổi 20 ở vùng cận sa mạc Shahara (Châu Phi) đã từng QHTD.
Vì thế nên đây cũng là nơi mắc BLTQĐTD lớn nhất, chẳng hạn như HIV/AIDS theo UNAIDS thì ở đây số người mắc HIV/AIDS chiếm 2/3 bệnh nhân này c ủa thế giới. Ở Thái Lan, ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX, các nghiên cứu đã cho thấy có tới 60% VTN nam có QHTD trong đó có một số không nhỏ mới ở tuổi 13; ở Trung Quốc các thống kê mới đây khẳng định có 20% nữ học sinh có QHTD; ở Bangladesh 25% và Nêpan 34% VTN nữ 14 tuổi đã kết hôn [5]; Châu Phi là l ục địa có tỉ lệ VTN có QHTD và m ắc các bệnh LTQĐTD lớn nhất thế giới. Các nghiên cứu cụ thể cho thấy, ở Bostwana có 41% nữ và 15% nam ở tuổi 15- 16 đã có QHTD [26]; ở Cameroon 55% nữ và 70% nam đã có QHTD ở tuổi 15, nghiên cứu này còn kh ẳng định, VTN càng l ớn tuổi mức độ QHTD càng tăng và có t ới 5% nữ và 16% nam ở tuổi từ 12-17 đã có trên hai bạn tình thường xuyên.[26] Theo ước tính của WHO, mỗi năm có khoảng 20 triệu người mắc các BLTQĐTD, trong đó nhóm tuổi 15-19 chiếm tỉ lệ cao thứ hai sau nhóm 20-24 tuổi. Sở dĩ nhóm thanh niên mắc các BLTQĐTD cao là do khi QHTD nhóm này thư ờng không sử dụng BPTT an toàn là bao cao su.[26] Cùng với tình trạng QHTD sớm, có thai, nạo hút thai và sinh đ ẻ sớm, mắc các BLTQĐTD gia tăng nhanh, thực trạng VTN dính líu và tham gia vào các t ệ nạn xã hội như tệ nạn ma túy, tệ nạn mại dâm, trộm cắp… đang đòi hỏi cấp bách và cần có 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chiến lược mang tính toàn c ầu về SKSS VTN.
Đó cũng là n ội dung xuyên suốt các nghiên cứu nói trên. Còn tại Việt Nam, trong những năm gần đây, các cơ quan chuyên môn, các tổ chức xã hội đã quan tâm nghiên cứu SKSS của VTN, nhiều công trình chú ý đến việc trang bị kiến thức tình dục học, các biện pháp phòng ngừa thai ngén. Nội dung SKSS trong các công trình này thư ờng bao gồm các vấn đề về tình bạn, tình yêu, tình dục, QHTD, sử dụng các BPTT, có thai sớm và nạo hút thai trong lứa tuổi VTN , nhận thức về HIV/AIDS và các BLTQĐTD. Tháng 5/1998, Ủy ban Quốc gia DS/KHHGĐ đã thông qua Dự án tăng cường giáo dục Dân số cho học sinh trung học 12-18 tuổi.