Chương 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG CỦA HUYỆN VÕ NHAI TRƯỚC NĂM 1986 1. Khái quát về Huyện Võ Nhai trước năm 1986 1. Quá trình hình thành Võ Nhai là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên nhưng Võ Nhai có lịch sử hình thành tương đối sớm. Vùng đất Võ Nhai thời thuộc Đường có tên là huyện Vũ Lễ, thời Lý - Trần (thế kỷ X-XV) gọi là châu Vạn Nhai; Thời thuộc Minh (đầu thế kỉ XV), châu Vạn Nhai đổi thành châu Vũ Lễ.
Đầu thời nhà Lê (đời Lê Thuận Thiên), châu Vũ Lễ đổi thành huyện Võ Nhai, thuộc phủ Phú Bình do phiên thần họ Ma nối đời cai quản. Đến thời Nguyễn, năm Minh Mạng thứ 16 (1836), huyện Võ Nhai gồm 8 tổng gồm 29 xã, trại, cai trị theo chế độ lưu quan. Đời Đồng Khánh (1885 -1888), huyện Võ Nhai gồm 8 tổng, 28 xã, trại và huyện lị được đặt ở xã Tràng Xá. Tổng Lâu Thượng, gồm ba xã: Xuất Tác, Phù Trì, Lâu Thượng.
Tổng Lâu Hạ, gồm hai xã: Lâu Hạ, Hương Thắng 3. Tổng Tràng Xá, gồm ba xã: Quan Lũng, Tràng Xá, Khắc Kiệm. Tổng Bắc Sơn gồm bốn xã: Bắc Sơn, Hưng Vũ, Chiêu Vũ, Trấn Yên. Tổng Nhất Thể gồm năm xã, trại: Vũ Lăng, Nhất Thể, Gia Hòa, Vũ Lễ và trại Nam Nhi.
Tổng Quỳnh Sơn gồm bốn xã: Quỳnh Sơn, Hữu Vĩnh,. Long Giản, Ngự Viễn. Tổng Tân Tri, gồm năm xã: Tân Tri, Sảng Mộc Nghênh Tường, Phú Cốc, Vũ Chấn. Tổng Vĩnh Yên, gồm hai xã: Vũ Yên, Vũ Địch.
Theo Sách Đại Nam nhất thống chí “Huyện Võ Nhai cách phủ 82 dặm về phía Bắc, Đông - Tây cách nhau 124 dặm, Nam - Bắc cách nhau 152 dặm, phía Đông đến địa giới huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn 35 dặm, phía tây đến địa giới huyện Cảm Hoá 89 dặm, phía Bắc đến địa giới huyện Văn Quảng tỉnh Lạng Sơn 70 dặm”. 10 Cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp đánh chiếm các tỉnh miền núi phía Bắc. Năm 1894, chính quyền thực dân Pháp cắt các tổng Bắc Sơn, Nhất Thế, Quỳnh Sơn, Tân Tri, Vĩnh Yên ra khỏi huyện Võ Nhai để lập thành châu Bắc Sơn, thuộc tỉnh Lạng Sơn. Huyện Võ Nhai được đổi thành châu Võ Nhai gồm 6 tổng (Lâu Thượng, Tràng Xá, Phương Giao, Cúc Đình, Thượng Nùng, Vân Lăng), với 22 xã, 1 phố và 5 trại.
Vị trí hành chính này được giữ nguyên cho đến sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ngày 25/3/1948, Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kí Sắc lệnh số 148/SL bỏ các đơn vị hành chính cấp phủ, châu, quận, tổng. Châu Võ Nhai đổi thành huyện Võ Nhai gồm 17 xã: Nghinh Tường, Văn Lăng, Vũ Chấn, Hòa Bình, Xuân Quang, Phương Giao, La Hiên, Phú Thượng, Dân Tiến, Thần Sa, Thượng Nung, Lịch Sơn, Cường Thịnh - Tràng Xá, Bình Long, Cúc Đường và Lâu Thượng. Năm 1965, tỉnh Thái Nguyên sáp nhập với Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái, Võ Nhai là một huyện thuộc tỉnh Bắc Thái.
Năm 1997, Bắc Thái tách thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn, Võ Nhai trở thành huyện của tỉnh Thái Nguyên. Ngày nay, huyện Võ Nhai có 15 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn (Đình Cả) và 14 xã (Nghinh Tường, Sảng Mộc, Vũ Chấn, Thần Sa, Cúc Đường, Lâu Thựơng, Thượng Nung, La Hiên, Phú Thượng, Tràng Xá, Liên Minh, Phương Giao, Dân Tiến, Bình Long), trong đó có tổng số 174 xóm bản và 2 tổ dân phố. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và dân cư * Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên Võ Nhai là một huyện miền núi thuộc vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Thái Nguyên. Huyện nằm ở khu vực Đông Bắc của tỉnh, cách thành phố khoảng 38km theo Quốc lộ 1B.
Võ Nhai có toạ độ địa lí 21036' đến 21056' vĩ Bắc và 105045' đến 106017' kinh Đông. Phía bắc Võ Nhai giáp huyện Na Rì (Bắc Kạn), phía đông và đông bắc giáp huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn), phía nam phía nam giáp huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang), phía tây giáp huyện Đồng Hỷ (tỉnh Thái Nguyên). Tổng diện tích đất tự nhiên năm 2016 của huyện là 845,10 km2, địa hình phức tạp chủ yếu là đồi núi dốc và núi đá vôi. 11 Điểm nổi bật của địa hình Võ Nhai là núi cao, bởi huyện nằm ở vị trí tiếp giáp của 2 dãy núi cao - dãy Ngân Sơn chạy từ Bắc Kạn theo hướng đông bắc - tây nam và dãy Bắc Sơn chạy theo hướng tây bắc - đông nam.
Vì vậy, huyện có địa hình phức tạp. Vùng núi dốc và núi đá vôi chiếm 92% diện tích tự nhiên. Núi đá vôi tập trung ở khu vực phía Bắc huyện, còn xuống phía nam, độ cao giảm dần. Khu vực phía Nam huyện phổ biến là những núi đất thấp, đặc trưng của vùng trung du.
Với địa hình chung là núi dốc và núi đá vôi nên toàn huyện có độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 100m đến 800m. Nhìn chung, những vùng đất bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỉ lệ nhỏ, tập trung chủ yếu theo các khe suối, dọc các triền và thung lũng của vùng núi đá vôi. Căn cứ vào địa hình, địa mạo và đất đai, địa hình huyện Võ Nhai được chia làm 3 tiểu vùng như sau: Địa hình Võ Nhai được chia thành 3 vùng rõ rệt: - Vùng núi cao, gồm 6 xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Cúc Đường, Thần Sa, Vũ Chấn, có đất rừng đa dạng với tập đoàn cây, con phong phú, tạo nên cảnh đẹp tự nhiên. Nơi đây có khối núi đá vôi Thượng Nung đồ sộ nhất tỉnh Thái Nguyên, rộng tới 300 km2, độ cao từ 500 đến 600 mét, kéo dài từ Thần Sa qua Nghinh Tường, đến Liêm Thuỷ (huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn).
Đây là vùng thấp nhất của huyện, có địa hình tương đối bằng phẳng hơn các vùng còn lại, được tạo nên bởi những thung lũng chạy dọc theo Quốc lộ 1B, hai bên là hai dãy núi có độ dốc lớn. Vùng này thuận lợi trong việc trồng cây ăn quả, cây lương thực và phát triển nông nghiệp, bao gồm các xã: La Hiên, Lâu Thượng, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả. - Vùng gò đồi, gồm 5 xã: Tràng Xá, Liên Minh, Dân Tiến, Bình Long và Phương Giao, có nhiều đồi đất hình bát úp, bị chia cắt bởi các dòng sông, khe suối và xen lẫn núi đá vôi. Mặc dù có địa hình phức tạp bởi có 3 vùng khác nhau nhưng điều kiện khí 12 hậu tương đối đồng nhất.
Võ Nhai mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi Bắc Bộ, nhiệt đới ẩm gió mùa. Trong năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 230C. Tháng 6 là tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất 39,7 0C, tháng 1 là tháng có nhiệt độ thấp nhất 10,40C.
Nhiệt độ này tạo cho Võ Nhai có thế mạnh trong việc phát triển các loại cây trồng nhiệt đới, cận nhiệt đới, nhất là các loại cây ăn quả như vải, na, bưởi.Lượng mưa trung bình hằng năm 1.941,5 mm và phân bổ không đều, chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa, khoảng 1. Là một huyện miền núi có địa hình chia cắt bởi các dãy núi đá và đất nên tài nguyên nước của huyện tương đối dồi dào nhưng phân bố không đều và không có nhiều sông lớn. Trong huyện có hai sông lớn, là nhánh trực thuộc hệ thống sông Cầu và sông Thương. Đó là sông Nghinh Tường ở phía Bắc của huyện và sông Rong ở phía Nam của huyện.
Sông Nghinh Tường có chiều dài 46 km, bắt nguồn từ những dãy núi của vòng cung Bắc Sơn (Lạng Sơn), chảy qua các xã Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Sa, rồi đổ ra sông Cầu. Khoảng 40% chiều dài dòng chảy là vùng đá vôi, thung lũng thường hẹp và sâu, vách đá dựng đứng. Sông Rong bắt nguồn từ xã Phú Thượng, chảy qua thị trấn Đình Cả, Tràng Xá, Dân Tiến, Bình Long, sang địa phận tỉnh Bắc Giang và đổ về sông Thương. Ngoài nguồn nước mặt từ sông, suối, ao, hồ, huyện Võ Nhai còn có nguồn nước ngầm từ các hang động trong núi đá vôi.
Tuy nhiên trong những năm gần đây do nạn chặt phá rừng bất hợp lý, làm nguồn tài nguyên nước của huyện đang bị suy thoái, gây ra hạn hán về mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa. Trong lòng đất có các mỏ chì, kẽm ở Thần Sa với quy mô, trữ lượng nhỏ, không tập trung; vàng ở Thần Sa, Sảng Mộc, Liên Minh; phốt pho ở La Hiên (trữ lượng khoảng 60. Ngoài ra, còn có đá xây dựng, cát, sỏi, sét xi măng ở La Hiên, Cúc Đường. Huyện Võ Nhai có những thắng cảnh nổi tiếng, như quần thể hang động 13 Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà, hang Nà Kháo, hang Huyền.
Ngoài ra, Võ Nhai còn có những di tích lịch sử, văn hoá như mái đá Ngườm, rừng Khuôn Mánh. Trong lòng đất có các mỏ chì, kẽm ở Thần Sa với quy mô, trữ lượng nhỏ, không tập trung; vàng ở Thần Sa, Sảng Mộc, Liên Minh; phốt pho ở La Hiên (trữ lượng khoảng 60. Ngoài ra, còn có đá xây dựng, cát, sỏi, sét xi măng ở La Hiên, Cúc Đường. Huyện Võ Nhai có những thắng cảnh nổi tiếng, như quần thể hang động Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà, hang Nà Kháo, hang Huyền.
Ngoài ra, Võ Nhai Khí hậu Võ Nhai mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi Bắc Bộ, nhưng có phần khắc nghiệt hơn. Thời trước, Võ Nhai nổi tiếng là nơi rừng thiêng nước độc. Sách Đồng Khánh địa dư chí, viết: “Trong huyện rừng núi liên tiếp, khí núi nặng nề. Khí trời nhiều lạnh rét Khí đất ẩm thấp.
Cuối xuân trời vẫn còn lạnh, mùa hè thì chỉ hơi nóng, đầu thu đã bắt đầu lạnh, đến mùa đông thì rét đậm. Hằng ngày khoảng trước giờ Tỵ, sau giờ Thân thì không nhìn thấy núi” [45, Tr. Một năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường diễn ra từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
Lượng mưa trung bình hằng năm 1.941,5mm và phân bố không đều, chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa, khoảng 1. Lượng mưa lớn nhất thường diễn ra vào tháng 8, trung bình khoảng 372,2mm. Mưa lớn và tập trung gây xói mòn đất, lũ lụt ảnh hưởng xấu tới cây trồng, độ phì nhiêu của đất và các công trình thuỷ lợi, đặc biệt là ở tiểu khu III và I, nơi có địa hình phức tạp, độ dốc cao và bị chia cắt nhiều.