CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐĂK HÀ VÀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐĂK HÀ TRƯỚC NĂM 1994 1. Khái quát về huyện Đăk Hà 1. Vài nét về điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý Đăk Hà là huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Kon Tum, phía Bắc giáp huyện Đăk Tô, phía Nam giáp thành phố Kon Tum, phía Tây giáp huyện Sa Thầy và phía Đông giáp huyện Kon Rẫy. Từ thành phố Kon Tum dọc theo quốc lộ 14 khoảng 20 km là đến trung tâm thị trấn Đăk Hà.
Quốc lộ 14 từ Đà Nẵng chạy dài qua huyện trở thành trục nối liền các tỉnh và các vùng kinh tế Nam Bộ, cửa khẩu Bờ Y (cách 70 km phía bắc), nối khu công nghiệp Liên chiểu và quốc lộ 24 về tận duyên hải miền Trung. Với vị trí địa lí như vậy, Đăk Hà trở thành vị trí chiến lược trong vùng trọng điểm về phát triển kinh tế của khu vực. Địa hình Huyện Đăk Hà có diện tích 84.503,77 ha nằm ở vùng Tây Trường Sơn trên nền đá cổ Việt Nam, có độ cao trung bình từ 550 đến 600m. Sự kiến tạo địa chất và 3 con sông (Krông Pô Kô, Đăk Pxy, Đăk Ui đã làm cho địa hình Đăk Hà rất phức tạp.
Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam từ Đông sang Tây, địa hình chia cắt mạnh tạo nên các sườn dốc tương đối bằng và trũng – Tây Nam của dãy núi Ngọc linh cao 2.066m, bao quanh là núi thấp có độ cao từ 600-1200 m, giữa là bậc thềm sông Krông Pô Kô và sông Đắk Pxy có thể phân chia địa hình thành 3 dạng: Địa hình núi cao sườn dốc: Chiếm 64% diện tích tự nhiên, phân bổ chủ yếu ở phía Bắc và Đông Bắc của huyện, là đầu nguồn sông Đăk Pxy và Đăk Ui. Đây là địa hình núi cao, hiểm trở, có những đỉnh núi cao trên 2000m. Địa hình đồi bằng lượng sóng: Chiếm 22% diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu ở phía Nam và Tây Nam huyện, là dạng địa hình chuyển tiếp giữa vùng núi cao và địa hình thấp, có dạng đồi bát úp và đỉnh đồi bằng, với độ cao trung bình 550 - 650m, nằm tiếp giáp và xen kẽ với bậc thềm thấp trũng. Thảm thực vật chủ yếu ở khu vực này là cây công nghiệp, cây bụi trảng cỏ.
Địa hình bằng - trũng: Chiếm 14% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu dọc theo các khe suối, hợp thủy. Sườn đồi thoải, độ cao trung bình từ 450 - 590m. Thảm thực vật chủ yếu là cà phê, cây lương thực, màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Tuy có địa hình chia cắt phức tạp nhưng hệ thống núi ở Đăk Hà không có những 9 đỉnh cao điển hình, thường cao 750m đến 950m ở các dãy Ngok Biăng, Ngok Kon Réo phía Đông, Ngok Kuăm ở phía Nam trải theo hướng Tây Bắc, Đông Nam thuộc hệ Ngọc Linh.
Khí hậu Đăk Hà nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cao nguyên, phân thành 2 mùa rõ rệt: “Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm 1. Độ ẩm trung bình 79,5%. Nhiệt độ trung bình cả năm 23,8 độ C.
Biên độ nhiệt giao động ngày và đêm khoảng 11 độ C. Nhiệt độ cao nhất trong năm là 39,8 độ C và thấp nhất 5 độ C. Khí hậu huyện Đăk Hà là khí hậu Tây Trường Sơn nhưng do địa hình thấp dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, nên chế độ nhiệt ẩm của 02 khu vực nói trên có khác biệt đáng kể và được phân thành 02 tiểu vùng khí hậu đó là: Tiểu vùng 1: Khu vực Trung tâm và Tây Nam của huyện bao gồm các thung lũng, đồi thấp có độ cao dưới 1000m bao gồm các xã Đăk La, Hà Mòn, thị trấn Đăk Hà, Đăk Ngọc, Ngọc Réo, Ngọc Wang, Đăk Mar, Đăk Hring, Đăk Long chiếm khoảng 2/3 diện tích của huyện Đăk Hà. Tiểu vùng 2: Khu vực thung lũng hẹp, núi cao có độ cao trên 1000m thuộc khu vực Động Bắc huyện tại các xã còn lại chiếm khoảng 1/3 diện tích của huyện Đăk Hà.
Tài nguyên thiên nhiên Với cấu tạo địa chất trong địa bàn huyện Đăk Hà gồm có 7 loại đất, thể hiện trên 4 nhóm chính: Đất phù sa sông có 1.195 ha (chiếm 1,42% diện tích), đất vàng đỏ có 62.132 ha (chiếm 73,6% diện tích), đất mùn vàng đỏ có 20,350 (chiếm 24,7% diện tích) và 20 ha nhóm đất thung lũng - đất dốc tụ. “Tổng diện tích tự nhiên là 84.503,77 ha, trong đó: Đất nông nghiệp 73.330,01 ha (diện tích cây cao su là 7.526 ha; diện tích cây cà phê là 8.139,5 ha, đất lúa nước 2.366,32 ha, đất nuôi trồng thủy sản 179,79 ha, đất lâm nghiệp 38.314,19 ha, đất rừng sản xuất 21.), đất phi nông nghiệp 6.187,86 ha, đất chưa sử dụng 4. Nguồn nước mưa mang tính đặc thù của Tây Trường Sơn, mạng lưới sông suối trên các địa bàn huyện tương đối dày với hệ thống kênh mương chảy qua các triền đồi đảm bảo cung cấp nguồn nước cho phát triển trồng cây cà phê và lúa 2 vụ của các nông trường. Huyện Đăk Hà có rừng đặc dụng Đăk Uy rộng 690 ha là khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng và sinh thái.
Ngoài ra, còn có 44,919 ha đất rừng có độ che phủ, là nơi tập trung các loại thú quí hiếm và các loại gỗ quí. Đặc biệt là loại gỗ trắc – một loại cây đặc hữu của 3 nước Đông Dương đã được liệt kê vào sách đỏ Việt Nam mà khu bảo tồn rừng đặc dụng Đăk Uy đang ra sức giữ gìn. Đặc điểm kinh tế Đầu thế kỉ XX, kế thừa hoạt động kinh tế tự nhiên từ thời nguyên thủy và điều kiện tự nhiên ưu đãi nên đồng bào Đăk Hà vẫn duy trì kinh tế tự cấp, tự túc như trồng trọt (trồng lúa trên rẫy) là nền tảng của sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi gia súc theo hình thức thả rông. Ngoài ra, để tự cấp, tự túc và có sản phẩm trao đổi các loại nhu yếu phẩm, đồng bào còn có những nghề truyền thống như rèn, dệt, làm đồ gốm, đan lát, đục đẽo thuyền.
Trong lao động, đồng bào không những cần cù mà còn có khối óc và bàn tay khéo léo trong những nghề truyền thống ấy. Xưa kia, sau mùa thu hoạch, các làng thường tổ chức từng đoàn người mang các sản phẩm dư thừa qua các làng khác để đổi hàng. Mãi đến trước Cách mạng tháng Tám vẫn chưa có chợ, chưa thấy các loại tiền kể cả tiền bằng ốc hay bằng vòng đá để làm chức năng trao đổi. Sau này, khi đồng tiền được phổ biến, đồng bào mới chính thức sử dụng.
Hàng hóa trước đây chỉ nhằm trao đổi giá trị lao động và thông qua đó tăng cường tình hữu nghị giữa các dân cư. Nhìn chung, nền kinh tế của cộng đồng dân cư trên địa bàn huyện Đăk Hà trước năm 1975 vẫn còn thấp, hầu như chưa có cơ sở hạ tầng. Mọi hình thái hoạt động kinh tế đều mang hình thức tạm bợ phù hợp với lối sống du canh, du cư, nên đời sống của đồng bào các dân tộc ở Đăk Hà hết sức khó khăn và thiếu thốn. Từ sau ngày đất nước thống nhất, đồng bào Đăk Hà đã tích cực thực hiện chủ trương của Đảng: “Xuống nà- ra ruộng”, khai hoang, xây dựng cánh đồng, phát triển thủy lợi, làm lúa nước, làm tốt công tác định canh, định cư, tiến tới xóa lối sống du canh, du cư, áp dụng khoa học - kỹ thuật canh tác trên đồng ruộng, các nông trường, lâm trường được hình thành… Tất cả đã làm nên sự thay đổi cơ bản trong cuộc sống của đồng bào cả về vật chất lẫn tinh thần.
Huyện Đăk Hà được thành lập trong thời kỳ đổi mới, là sự kiện quan trọng đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân các dân tộc trên địa bàn trong điều kiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thấp, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn nhiều khó khăn thiếu thốn. Được sự quan tâm lãnh đạo thường xuyên và tập trung của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, sự giúp đỡ tận tình của các cơ quan tỉnh, các Bộ, ngành Trung ương, đặc biệt là sự đồng thuận của nhân dân, sự ủng hộ của các Nông trường, Công ty đóng chân trên địa bàn đã giúp huyện sớm ổn định nơi làm việc và kiện toàn hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở, đây là nhân tố quyết định đưa huyện sớm vượt qua khó khăn để xây dựng và phát triển. Kế thừa và phát huy truyền thống Anh hùng, dưới sự lãnh đạo dân chủ, kỷ cương và sáng suốt của Đảng bộ huyện, sự năng động, sáng tạo trong quản lý điều hành của chính quyền, sự phối hợp có hiệu quả của Mặt trận và các đoàn thể huyện, sự nỗ lực to lớn của nhân dân các dân tộc đã cùng nhau chung sức, đồng lòng xây dựng huyện Đăk Hà những năm qua đạt được những thành tựu nổi bật, Đảng bộ, 11 chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Đăk Hà luôn phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng vào việc khai thác tiềm năng, thế mạnh và nhân tố còn người để xây dựng huyện ngày càng giàu đẹp, tạo thế và lực mới trong xu thế hội nhập, phát triển. Nhờ đó, kinh tế - xã hội không ngừng phát triển.
“Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 15 - 16%. Tỷ trọng ngành Nông - lâm - thuỷ sản năm 2018 chiếm 40,74%; Công nghiệp - xây dựng chiếm 33,62%; Thương mại - dịch vụ chiếm 25,64%. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 2,02 triệu đồng/người/năm năm 1994 lên 40,2% triệu đồng/người/năm năm 2018. Kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng hợp lý, bền vững; các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế được thử nghiệm và nhân rộng, góp phần đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp, sản xuất hàng hóa gắn với thị trường.
Trong đó, ưu tiên thu hút và phát huy vai trò của các Doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân đầu tư sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chế biến gắn với xây dựng liên kết chuỗi giá trị và phát triển thương hiệu đối với các sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc trưng của địa phương. Tính đến năm 2019, tổng diện tích gieo trồng toàn huyện đến nay trên 24.000 ha (tăng gấp 2,8 lần so với năm 1995), tổng diện tích cây cà phê trên 9.000 ha, cây cao su trên 7.000 ha; thực hiện Nghị quyết 01 - NQ/HU của Ban chấp hành Đảng bộ huyện về thâm canh tăng năng suất cấy sắn trên địa bàn, hiện nay tổng diện tích thâm canh cây sắn đạt trên 494 ha/1. “Tổng đàn gia súc 25.548 con, gia cầm 193.