Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về DP cho SV. Thực trạng DP cho SV các trường ĐH, CĐ tại tỉnh Bình Định. Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả DP cho SV từ thực tiễn các trường ĐH, CĐ tỉnh Bình Định hiện nay.
6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của giáo dục pháp luật cho sinh viên 1. Khái niệm giáo dục pháp luật cho sinh viên 1. Giáo dục pháp luật Cho đến nay, ở nước ta vẫn có những quan điểm khác nhau về GDPL.
Về cơ bản, có thể nhận diện 4 nhóm quan điểm chính: Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng GDPL là một bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng và của giáo dục đạo đức. Theo quan điểm này, thì chỉ cần tiến hành giáo dục chính trị, tư tưởng hay đạo đức là mọi chủ thể trong xã hội có ý thức pháp luật, có sự tự giác, tôn trọng và tuân theo pháp luật. Nghĩa là nếu tiến hành giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức tốt thì trên thực tế có thể đạt được sự tôn trọng pháp luật của công dân. Ở quan điểm này đã không cân nhắc đến tính độc lập tương đối mang tính thực chất của DP , chưa xác định rõ những điểm tương đồng và những điểm khác biệt của các dạng thức giáo dục đó.
Pháp luật và đạo đức cũng là những khái niệm tuy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng là những khái niệm độc lập với nhau. Pháp luật và đạo đức là hai hình thái của ý thức xã hội nhưng đều có các chức năng là nhận thức, điều chỉnh, giáo dục. Do vậy, GDPL và giáo dục đạo đức là những khái niệm độc lập có mối quan hệ chặt chẽ với nhau chứ không là một. GDPL hình thành nên, củng cố và phát triển ở đối tượng giáo dục những quan niệm về cái thiện, cái ác, lương tâm, danh dự, trách nhiệm, về lòng tự trọng, về công bằng, về hạnh phúc, về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội.
7 Nhóm quan điểm thứ hai, đồng nhất GDPL với tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Trong hoạt động khoa học và cuộc sống hàng ngày chúng ta vẫn thường sử dụng các khái niệm: tuyên truyền pháp luật, phổ biến pháp luật, giải thích pháp luật, GDPL. Nhìn nhận chung, mọi người đều cho rằng đó là các dạng hoạt động nhằm hướng đến việc hình thành và nâng cao văn hoá pháp luật, ý thức pháp luật trong xã hội. Tuy vậy, đó là những khái niệm không hoàn toàn đồng nhất với nhau.
“Tuyên truyền là việc giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo” [24]; là “đem chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước phổ biến và giải thích cho đông đảo quần chúng biết và động viên mọi người thực hiện” [15]. Từ đó có thể hiểu khái quát về tuyên truyền pháp luật là việc công bố, giới thiệu rộng rãi nội dung của pháp luật cho mọi người biết; động viên, thuyết phục mọi người thực hiện theo đúng. “Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó”[24]; hay là “làm cho mọi người đều biết đến”[15]. Giống như tuyên truyền, phổ biến cũng có đối tượng tác động rộng rãi.
Tuy nhiên, phổ biến có điểm khác với tuyên truyền ở chỗ tính động viên, tính thuyết phục của phổ biến không cao như tuyên truyền. Như vậy, có thể hiểu phổ biến pháp luật là làm cho mọi người biết về pháp luật. “Giáo dục là hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho người ta những phẩm chất đạo đức và tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội” [24]. Giống như tuyên truyền, phổ biến, DP cũng nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết, tình cảm, nhưng phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, có kế hoạch hơn, đối tượng được xác định rõ hơn, mục đích rõ ràng hơn.
Từ đó 3 khái niệm có vẻ tương đồng có thể hiểu khái quát GDPL là hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho đối 8 tượng được giáo dục những phẩm chất đạo đức và tri thức pháp luật cần thiết để đối tượng được giáo dục có khả năng tham gia mọi mặt đời sống xã hội. Có lẻ vì vậy mà các bài viết khoa học pháp lý ở nước ta cho thấy các tác giả có cách hiểu khá thống nhất về khái niệm DP , đó là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể giáo dục tác động đến đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên, nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật và hành vi phù hợp với đòi hỏi của pháp luật hiện hành. Cách tiếp cận này là phù hợp với bản chất của pháp luật, ý thức pháp luật của người dân và điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam hiện nay hơn. Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng DP đồng nghĩa với dạy và học pháp luật ở các nhà trường, còn việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật được tiến hành ngoài xã hội và không phải là GDPL.
Quan điểm như vậy về GDPL là hạn hẹp. Giảng dạy pháp luật trong trường học được thực hiện đối với một nhóm đối tượng nhất định trong xã hội với những điều kiện nhất định về chương trình, nội dung, đội ngũ giáo viên, phương tiện, phương pháp giảng dạy… phù hợp với từng đối tượng cụ thể ở các bậc học. Giảng dạy pháp luật là một trong những hình thức GDPL ở nước ta. Như vậy, GDPL nói chung không đồng nghĩa với dạy và học pháp luật trong nhà trường và đào tạo người làm việc trong lĩnh vực pháp luật.
DP có nghĩa rộng hơn, có hình thức thực hiện đa dạng hơn, trong đó việc dạy và học pháp luật trong nhà trường là một bộ phận quan trọng giúp đối tượng có nhận thức, hiểu biết cơ bản và tạo niềm tin một cách có cơ sở đối với pháp luật. Nhóm quan điểm thứ tư cho rằng không có khái niệm GDPL. Theo quan điểm này, pháp luật là quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung và mọi chủ thể có nghĩa vụ phải tuân theo pháp luật, do vậy, không cần đặt ra vấn đề GDPL. Đây là quan điểm một chiều và chưa thấy hết được vai trò, giá trị, nội dung rộng lớn của pháp luật, của GDPL.
9 DP đã và đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, yêu cầu “tăng cường công tác GDPL, nâng cao hiểu biết và ý thức tôn trọng pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh, thống nhất và công bằng” [12, tr 57-58] luôn là bức thiết trong chỉ đạo chỉ đạo hoạt động. Từ các phân tích trên luận văn đưa ra quan niệm về DP như sau: GDPL là loại hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể giáo dục thông qua các hình thức, phương pháp khác nhau, tác động đến đối tượng giáo dục một cách có hệ thống nhằm hình thành ở họ tri thức, giá trị pháp luật, sự tôn trọng pháp luật, tình cảm và hành vi phù hợp với pháp luật hiện hành để từ đó xây dựng lối sống và văn hoá pháp luật. Giáo dục pháp luật cho sinh viên Tiếp cận đầu tiên với khái niệm có thể thấy đây là công tác DP cho một đối tượng rất cụ thể, đó là SV. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “SV là người đang học ở bậc đại học”[24]; Khoản1 Điều 83Luật Giáo dục 2005 quy định “Người học bao gồm: “SV của trường cao đẳng, trường đại học” [3].
Vì vậy có thể khái niệm “SV là người học trình độ đào tạo đại học và cao đẳng trong các trường ĐH, CĐ”. SV được Nhà nước công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học ở các hình thức đào tạo chính quy và không chính quy khi đã hoàn thành bậc học tiểu học và trung học. Trường ĐH và trường CĐ là các đơn vị cơ sở đào tạo bậc đại học nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, hiện nay được tổ chức theo hình thức công lập và tư thục gồm: các trường cao đẳng nghề Điểm b, Khoản 1, Điều 36, Luật Giáo dục đại học)[4]; các trường cao đẳng đào tạo trình độ cao đẳng; các trường đại học đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ (Khoản 1, Điều 42, Luật Giáo dục đại học)[4]. Đây là môi trường với đầy đủ các tiêu chuẩn chất lượng cao trong hệ thống giáo dục 10 quốc dân về tài chính, đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên đa môn học, ngành nghề, nhân viên hành chính, bảo vệ, cán bộ y tế, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học.
Ở đó người học là SV được truyền đạt kiến thức cơ bản hoàn chỉnh về một ngành nghề cụ thể, chuẩn bị đầy đủ lý thuyết và một phần thực tiễn cho công việc sau này khi tham gia vào lao động, sản xuất. Từ các dẫn giải, có thể nêu khái niệm DP cho SV như sau: GDPL cho SV các trường ĐH, CĐ là hoạt động có định hướng, có tổ chức có chủ đích của các chủ thể GDPL trong các trường ĐH, CĐ tới SV thông qua các hoạt động giáo dục chính khóa và ngoại khóa bằng các phương pháp giáo dục khác nhau nhằm trang bị tri thức pháp luật cơ bản, định hướng, phát triển nhân cách và tư cách công dân, nâng cao nhận thức, góp phần điều chỉnh hành vi, hình thành thói quen tự giác xử sự đúng pháp luật, có ý thức tuân thủ pháp luật, có tri thức pháp luật về chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề mình được đào tạo. Trong phạm vi nghiên cứu giới hạn của luận văn, “SV” được hiểu là người học trình độ đào tạo ĐH, CĐ theo hình thức chính quy tập trung trong các trường ĐH, CĐ không chuyên luật. Các trường ĐH, CĐ không chuyên luật được hiểu là các đơn vị đào tạo các ngành nghề khác nhau nhưng không đào tạo ngành luật.
Đặc điểm của giáo dục pháp luật cho sinh viên DP cho đối tượng nào thì GDPL mang màu sắc riêng của đối tượng ấy.