Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Khái quát chung về văn học thiếu nhi 1.1 Khái niệm văn học thiếu nhi Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, văn học thiếu nhi “Theo nghĩa hẹp, gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho thiếu nhi” [7;353] và “Theo nghiã rộng: gồm những tác phẩm văn học thông thường (cho người lớn) đã đi vào phạm vi đọc của thiếu nhi” [7;354]. Bách khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam văn học thiếu nhi quan niệm tường tận và chi tiết hơn. Khái niệm văn học thiếu nhi được nhận diện ở nhiều góc độ: chủ thể sáng tác, nhân vật trung tâm, mục đích sáng tác, đối tượng tiếp nhận… Mọi tác phẩm được mọi nhà sáng tạo ra với mục đích giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, tính cách cho thiếu nhi. Nhân vật trung tâm của nó là thiếu nhi, và đôi khi cũng là người lớn, hoặc là một cơn gió, một loài vật, một đồ vật, một cái cây… Tác giả của văn học thiếu nhi không chỉ là chính các em mà cũng là các nhà văn thuộc mọi lứa tuổi.
Những tác phẩm mà thiếu nhi thích thú tìm đọc. Bởi vì các em đã tìm thấy trong đó cách nghĩ cách cảm cùng những hành động gần gũi với cách nghĩ cách cảm và cách hành động của chính các em, hơn thế, các em còn tìm được ở trong đó một lời nhắc nhở, một sự răn dạy, với những nguồn động viên khích lệ, những sự dẫn dắt ý nhị, bổ ích… trong quá trình hoàn thiện tính cách của mình. Như vậy, văn học thiếu nhi là những tác phẩm văn học mà nhân vật trung tâm hoặc là thiếu nhi, hoặc là người lớn, hoặc là con người, hoặc là thế giới tự nhiên… nhưng được nhìn bằng đôi mắt trẻ thơ, có nội dung gần gũi, quen thuộc với vốn trải nghiệm của trẻ, được các em thích thú, say mê và có tác dụng hoàn thiện đạo đức, tâm hồn cho trẻ.2 Đặc trưng cơ bản của văn học thiếu nhi Tác phẩm dành cho thiếu nhi luôn trong sáng, hồn nhiên và dễ hiểu. Đặc điểm này xuất phát từ bản chất ngây ngô, ngộ nghĩnh của trẻ con.
Khi chưa bước sang tuổi trưởng thành, con người chưa bị áp lực của miếng cơm, manh áo cũng như những ràng buộc xã hội khác làm tha hoá, đấy là lúc đời sống tinh thần tự nhiên, lành mạnh nhất. Dù chúng ta có cố tình nhét vào đầu trẻ em hàng trăm thứ mà người lớn chúng ta có được, thì muôn đời trẻ em vẫn cứ là trẻ em. Hồn nhiên, vô 7 Luan van tư, trong sáng là đặc điểm ổn định trong mọi chuyển biến của lứa tuổi, bởi vì đây là lứa tuổi còn say mê chơi đùa, nhu cầu vui chơi giải trí xuyên thấm trong mọi hành vi, hoạt động của chúng. Khi nào mất đi đặc điểm ấy trẻ em không còn là trẻ em nữa.
Một tác phẩm văn học bỏ qua đặc điểm này tự nó xa lạ với trẻ em. Vui đùa, giải trí là phương tiện quan trọng để trẻ em giữ được bản chất hồn nhiên, vô tư, trong sáng, hơn nữa nó không làm cho các nội dung phức tạp của đời sống quá ngưỡng tiếp nhận của trẻ em. Muốn thế, người sáng tác phải biết pha trò dí dỏm trong cấu trúc hình tượng, tình huống, ngôn ngữ… M. Gorki nói nhiều về chức năng giáo dục của văn học xô viết, nhưng rốt cuộc ông cũng phải thừa nhận vui cười, thú vị là một nét căn bản của văn học cho thiếu nhi.
“Về mặt sư phạm mà nói, cái khuynh hướng đó như một phương tiện, như một sự bảo đảm chống đối lại tính chất nguy hiểm làm cho trẻ con khô khan bởi tính nghiêm nghị…”[6; 58]. Một nét đặc trưng của tâm lý trẻ thơ là rất giàu mơ mộng, tưởng tượng, liên tưởng… Do vậy, một trong những tiêu chuẩn của tác phẩm văn học thiếu nhi là phải sáng tạo ra một thế giới mới khác với thế giới thực để hấp dẫn các em. Nhìn dưới góc độ này thì các tác phẩm kinh điển của văn học thiếu nhi là Dế mèn phiêu lưu ký (Tô Hoài), Hai vạn dặm dưới biển (Duy-lơ Véc-nơ)… rõ ràng đối tượng viết không chỉ là chính bản thân trẻ em mà còn là thế giới loài vật, là thế giới người lớn… nhưng được các em thích thú tìm hiểu. Nhưng dù ở đâu, thế giới hay Việt Nam; ở thời kỳ nào, cổ đại, trung đại hay hiện đại thì người ta vẫn rất chú ý tới phẩm chất của một tác phẩm văn học thiếu nhi, thể hiện ở tính giáo dục và tính nhận thức.
Một trong những nét tính cách trẻ mới lớn là bắt chước người lớn. Do vậy văn học thiếu nhi ở đâu cũng thế, thời nào cũng thế là luôn sáng tạo ra những hình tượng mang tính tấm gương. Đó không chỉ là hình tượng con người mà có thể là hình tượng thiên nhiên, loài vật… nhưng chuyển tải được bài học làm người về cách rèn luyện, cách ứng xử…Điều này lại quy định văn học thiếu nhi cũng rất đa dạng về thể loại, là văn xuôi, là thơ, là kịch, là cổ tích, thần thoại, và nhất là ngụ ngôn… Cho nên văn học thiếu nhi cũng cực kỳ phong phú, đâu có khó chọn, khó tìm… Trẻ em nào cũng thơ mộng và lãng mạn. Ngây thơ, ngộ nghĩnh, dễ yêu thương, dễ hờn dỗi, hay mộng mị, buồn vui là thơ mộng.
Đôi mắt trẻ thơ là khoảng trời xanh, áng mây trắng đi vào mắt chúng là cả một ảo giác về tương lai. Trăm năm của một đời người, khoảnh khắc tuổi thơ là cõi lãng mạn mênh mông nhất. Phương diện tâm lý này trở thành đặc điểm thẩm mỹ quan trọng của văn học cho thiếu nhi. 8 Luan van Hiện thực đối với trẻ em là những gì đang có, rất nghèo nàn, chỉ là những gì trẻ nhìn thấy xung quanh góc sân hay khoảng trời, con đường hay mái trường chúng đang học tập.
Quan hệ xã hội có khi chỉ là những cấm đoán làm cho chúng thấy luôn bị tù túng. Đó là lý do mà văn học thiếu nhi cần trở thành một thế giới khác, lãng mạn hơn, thơ mộng hơn, là thế giới của những ảo tưởng. Nhiệm vụ của một nền văn học lành mạnh là phải dọn đường cho trẻ em thênh thang bước tới tương lai. Chúng phải được nhìn thấy ánh sáng nhiều hơn bóng tối, cái đáng yêu nhiều hơn đáng ghét, cái vui vẻ nhiều hơn những buồn phiền.
Sở dĩ các tác phẩm truyện viết cho trẻ em lôi cuốn, hấp dẫn, có sức cảm hóa lạ lùng, mạnh mẽ được các em là vì luôn lấp lánh chất thơ, chất truyện. Chất thơ giúp trẻ em sau khi được nghe ông bà, cha mẹ kể chuyện, gấp sách lại vẫn thấy bao nhiêu điều kì diệu, “bám chặt” lấy tâm hồn, tình cảm và chắp cánh cho những ước mơ, khát vọng của tuổi thơ. Chất truyện trong thơ cũng là một trong những yếu tố tạo nên hình tượng cảm xúc trong thơ. Mỗi bài thơ viết cho trẻ thơ gần như là một trong yếu tố tạo nên hình tượng cảm xúc trong thơ.
Mỗi bài thơ viết cho trẻ gần như một mẩu truyện hoặc chứa đầy yếu tố truyện. Điều đó khiến cho các em dễ hiểu, dễ cảm nhận và thuộc lòng những vần thơ. Văn học thiếu nhi có vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ.Văn học thiếu nhi như một nguời bạn đồng hành cùng trẻ thơ, cung cấp cho trẻ thơ một vốn từ ngữ khổng lồ, đặc biệt là những từ ngữ nghệ thuật. Khi trẻ thường xuyên tiếp xúc với các tác phẩm văn học thiếu nhi, vốn từ ngữ của các em phong phú và sống động hơn.
Các em tự hình thành cho mình khả năng diễn đạt một vấn đề một cách mạch lạc, giàu hình ảnh và biểu cảm bởi đã được học cách diễn đạt sinh động ấy trong tác phẩm. Đối với trẻ mầm non, sự phát triển ngôn ngữ ấy qua hoạt động bắt chước lời nói, việc làm của các nhân vật hoặc những cách diễn đạt trong tác phẩm. Chính quá trình trẻ được nghe, được kể diễn cảm truyện, thơ và được trực tiếp tham gia vào hoạt động đọc, kể lại truyện thơ sẽ giúp trẻ tích lũy và phát triển thêm nhiều từ mới. Điều này giúp giáo viên có thể dễ dàng hơn trong việc rèn luyện khả năng biểu cảm trong ngôn ngữ nói, ngôn ngữ miêu tả, ngôn ngữ đối thoại với trẻ.3 Văn học thiếu nhi nước ngoài trong chương trình Tiểu học Trong chương trình dạy Tiếng Việt ở bậc Tiểu học, các tác phẩm thuộc bộ phận văn học nước ngoài được đưa vào chương trình với trên dưới 100 tác phẩm.
Các tác phẩm này bao gồm nhiều thể loại như truyện dân gian (truyện thần thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười,…) và những câu chuyện viết về các danh 9 Luan van nhân, về người thật việc thật. Có khi nó bao gồm cả một bài hoặc chỉ là một đoạn trích văn, thơ của các nhà văn, nhà thơ từ cổ điển đến hiện đại nổi tiếng trên thế giới. Các tác phẩm văn học nước ngoài được đưa vào chương trình sách giáo khoa Tiểu học dưới hình thức xen kẽ theo từng chủ điểm của các cấp lớp với đề tài, nội dung khá phong phú, đa dạng, bao gồm nhiều mặt của cuộc sống. Điều này còn giúp các em hiểu biết them về văn hóa, về cuộc sống của nhiều dân tộc trên thế giới.
Văn học nước ngoài được đưa vào chương trình Tiểu học chủ yếu ở hai phân môn Tập đọc và Kể chuyện. Thông qua các tác phẩm văn bản Tập đọc và Kể chuyện giúp các em được mở rộng tầm mắt, được “nhìn ra thế giới”, góp phần để lại trong tâm trí tuổi thơ của các em những kiến thức phong phú về đời sống, những khát vọng đẹp đẽ của loài người từ thuở ấu thơ đến ngày nay. Khởi đầu từ những câu chuyện đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ, có giá trị thẩm mĩ và có tác dụng rõ rệt đến việc giáo dục đạo đức và nâng cao trình độ nhận thức của học sinh về nhiều mặt. Các em được tiếp xúc với những chuyện kể vừa có cốt truyện hấp dẫn vừa có hình tượng kì vĩ, bay bổng gợi lên bao cảm xúc và ước mơ.
Các em được học những đoạn văn hay, cách tả cảnh, tả vật, tả người rất sinh động, sâu sắc và tinh tế. Trong đó, các yếu tố cảnh và tình, ngoại hình và nội tâm hòa quyện với nhau chặt chẽ. Bên cạnh đó, các em còn học những bài học làm người, những lời khuyên bổ ích, rèn luyện những tư tưởng, tình cảm cao đẹp (yêu lao động, yêu cái đẹp, yêu gia đình, yêu nước, yêu thiên nhiên,.