CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ CHO TRẺ 4-5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Tại nhiều nước phương Tây, thiếu nhi và thanh thiếu niên đã được học những kỹ năng về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện và đương đầu với những khó khăn, cách vượt qua những khó khăn đó cũng như cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực giữa người và người. Đó là những kỹ năng quan trọng để con người làm việc hiệu quả và có thể thành công trong cuộc sống.
Ở các nước trong khu vực Châu Á, việc nghiên cứu và áp dụng thử nghiệm giáo dục các kỹ năng sống cơ bản, trong đó có kỹ năng an toàn và tự bảo vệ cũng rất được quan tâm. Singapore có chương trình “KidzLive: I can protect myself” (KidzLive: tôi tự bảo vệ mình) được thực hiện tại các trường tiểu học từ 2000 đến 2009 và đã tiếp cận với học sinh mầm non từ năm 2011. Chương trình dạy trẻ em tự bảo vệ mình trước lạm dụng tình dục. Chương trình này kết hợp các yếu tố tương tác để dạy trẻ tôn trọng cơ thể của chúng, phân biệt giữa chạm tốt và xấu và nói với một người trưởng thành đáng tin cậy nếu chúng bị chạm không thích hợp.
“Mothers' perceptions of the phenomenon of bullying among young children in South Korea” (Nhận thức của các bà mẹ về hiện tượng trẻ nhỏ bị bắt nạt ở Hàn Quốc) là bài nghiên cứu của hai tác giả Hyun-jung Ju và Seung-ha Lee ở Hàn Quốc. Nghiên cứu đã đề cập đến cần phải dạy trẻ cách đối phó với bắt nạt qua các bước: trẻ bị bắt nạt phải học cách phản ứng, thể hiện và báo cáo cho người lớn có trách nhiệm. Bắt nạt là một vấn đề phổ biến có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào từ khi còn nhỏ cho đến khi trưởng thành. Trẻ nhỏ ít có khả năng phản kháng và bị bắt nạt nhiều lần.
Tại Nhật, có một chương trình là“Japanese Tokkatsu education system” (Hệ thống giáo dục Nhật Bản Tokkatsu), được giáo dục phổ biến, phát triển tất cả các 7 kỹ năng của học sinh, tập trung vào sự sáng tạo và suy nghĩ hơn là giáo dục truyền thống. Hệ thống Tokkastu thúc đẩy sự tự tin của học sinh thông qua một số hoạt động và kỹ năng, như phân bổ một bộ bài học để dạy học sinh rửa tay và dọn dẹp lớp học, sự tham gia của học sinh trong vệ sinh trường học, giáo dục thực phẩm, tự bảo vệ và hành vi [36]. Bên cạnh các chương trình giáo dục KNTBV, cũng có nhiều tác phẩm hữu ích hỗ trợ sự hoàn thiện kỹ năng này cho người học. “45 cách dạy trẻ tự bảo vệ mình” của tác giả Yoon Yeo Hong, với những tình huống gần gũi với cuộc sống hàng ngày của trẻ, cùng với ngôn ngữ đơn giản, kèm theo nhiều hình ảnh minh họa hấp dẫn, quyển sách đã giúp cho trẻ nhận biết các mối nguy hiểm, nâng cao cảnh giác và bảo vệ an toàn cho chính mình cũng như hướng dẫn trẻ cách đối phó hoặc thoát khỏi nguy hiểm tạm thời [12].
Đề cập đến những tình huống bất ngờ, nguy hiểm và khẩn cấp trong cuộc sống hàng ngày có hai tác phẩm được tái bản nhiều lần của tác giả Liu Tao “Dạy trẻ tránh nguy hiểm” và “Dạy trẻ tự bảo vệ”, nêu ra các phương pháp xử lí đơn giản, dễ hiểu, nhanh gọn và hợp lí, cùng với những bài trắc nghiệm nho nhỏ bổ ích, giúp các em nắm vững kĩ năng sống, biết tự xử lí, tự bảo vệ mình khi gặp những tình huống nguy hiểm [21]. Tác giả Bành Quế Lan viết bộ sách ba quyển, đề cập về kiến thức giữ an toàn ở trường, ở bên ngoài và ở nhà. Mỗi cuốn có 45 tình huống đọc hiểu, gợi mở và phần kiến thức khắc sâu để bé có thể dễ dàng ghi nhớ và áp dụng sáng tạo vào hoàn cảnh của bản thân [14]. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm.
Những chương trình này nhằm hình thành cho trẻ em những kỹ năng cơ bản giúp chúng thích ứng với cuộc sống tương lai. Các nghiên cứu ở Việt Nam Những năm gần đây, kỹ năng tự bảo vệ là một trong những thuật ngữ được nhắc đến nhiều trong các câu chuyện giáo dục. Với ý nghĩa quan trọng và cần thiết cho mọi người đặc biệt là trẻ em, nó trở thành vấn đề được cả ngành giáo dục và xã 8 hội quan tâm. Nhiều chương trình, dự án giáo dục KNTBV do các Tổ chức phi chính phủ phối hợp với Chính phủ Việt Nam đã được thực hiện.
Giai đoạn 2010-2016 có chương trình “Bạn hữu trẻ em” được thực hiện do sự hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và UNICEF. Đây là chương trình được thực hiện ở nhiều tỉnh thành Việt Nam như: Đồng Tháp, Kon Tum, Ninh Thuận, Điện Biên, An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung chương trình giáo dục gồm có kỹ năng phòng chống xâm hại trẻ em, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ, kỹ năng từ chối – nói không với những cám dỗ của cuộc sống; trang bị cho trẻ những kỹ năng tự bảo vệ mình trước những nguy cơ như ma túy, lạm dụng tình dục, … [30]. Viện nghiên cứu khoa học giáo dục (IRES) biên soạn “Chương trình giáo dục giới tính ERA - Kỹ năng phòng tránh xâm hại cho trẻ 3-5 tuổi”.
Nội dung của giáo trình gồm có 4 phần, trong đó phần 4 là “Một số kỹ năng dành cho trẻ” như: kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng an toàn khi tự chơi, kỹ năng xử lý khi đi lạc…được đề cập và phân phối từng mục nhỏ phù hợp từng độ tuổi mẫu giáo khác nhau. Giáo trình đã được Phòng giáo dục phổ biến chuyên môn cho các giáo viên, tại các trường mầm non thuộc quận Gò Vấp trong năm học 2019-2020 [31]. Bộ sách “Lật lật, mở mở, bé học an toàn” gồm 10 cuốn, dạy trẻ nhận thức về an toàn, hình thành thói quen và kỹ năng an toàn, nuôi dưỡng ý thức về khả năng tự bảo vệ. Mỗi cuốn có nét vẽ đơn giản và ngộ nghĩnh, với tựa đề dễ hiểu và gần gũi với trẻ như “Đề phòng thú cưng cắn”, “Con dao sắc ghê”, “Đừng tùy tiện mở cửa” … [8].
Sự phát triển mạnh về công nghệ số, tạo ra nhiều phương cách giáo dục KNTBC có tính tương tác mới, hiện đại hơn như phim hoạt hình, trò chơi điện tử, trang mạng xã hội… Từ năm 2010 đến nay, nhiều tác giả đã chọn các đề tài có liên quan đến giáo dục kỹ năng sống cho trẻ làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành giáo dục Tác giả Mai Hiền Lê nghiên cứu đề tài về kỹ năng sống của trẻ em mầm non. Nghiên cứu đã có cuộc khảo sát khá đầy đủ về các kỹ năng sống của trẻ mẫu giáo lớn được trình bày trong đề tài “Kỹ năng sống của trẻ mẫu giáo lớn trường mầm 9 non Thực hành Thành Phố Hồ Chí Minh” được bảo vệ năm 2010. Ưu điểm của đề tài này, tác giả đã mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài về kỹ năng sống của trẻ em mầm non. Giới hạn của đề tài là chỉ khảo sát ở một trường mầm non, và việc thử nghiệm chỉ dừng lại ở một kỹ năng giao tiếp [15].
Nội dung của đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp lá tại các trường Mầm non công lập quận Thủ Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Anh ,phân tích sáu kỹ năng sống cần thiết cho trẻ mầm non: kỹ năng tự nhận thức bản thân, giao tiếp và quan hệ xã hội, kỹ năng tự tin, tự lập, kỹ năng có trách nhiệm và kỹ năng hợp tác. Kết quả nghiên cứu cho thấy, kỹ năng tự bảo vệ bản thân không được đề cập đến trong đề tài [1]. Năm 2018, tác giả Phạm Hồ Mai Thi có đề tài nghiên cứu “Tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo ở các trường Mầm non quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh”. KNTBV bản thân chỉ chiếm một phần của đề tài nghiên cứu, gồm có các kỹ năng: biết tránh xa các vật dụng sắc nhọn, biết xử lý tình huống khi lạc mẹ trong siêu thị [23].
Như vậy, kỹ năng tự bảo vệ là một trong những kỹ năng quan trọng và cần thiết của trẻ, tuy nhiên việc nghiên cứu kỹ năng này còn hạn chế. Một số đề tài về KNTBV cho trẻ mẫu giáo lại chú trọng nghiên cứu lứa tuổi là trẻ mẫu giáo lớn như: “Kỹ năng tự vệ cho trẻ 5-6 tuổi trong trường mầm non tại Thành Phố Hồ Chí Minh” của tác giả Mai Hiền Lê, bảo vệ đề tài nghiên cứu cấp cơ sở vào năm 2012 [16]; tác giả Lê Tú Anh bảo vệ đề tài nghiên cứu “Biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” năm 2013 [2]. Hiện nay, các công trình về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ được nghiên cứu và triển khai nhiều ở các lứa tuổi từ mầm non đến phổ thông. Nhưng đề tài KNTBV cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi hầu như rất ít.
Vì vậy, chưa có những đánh giá cụ thể và mang tính khái quát về thực trạng của việc giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ 4-5 tuổi. Việc xác định các nội dung, biện pháp giáo dục kỹ năng này là việc làm cần thiết, từ đó đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng này cho trẻ. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Biện pháp giáo dục - Khái niệm biện pháp Theo từ điển Tiếng Việt”: Biện pháp là cách làm, cách thức giải quyết một vấn đề cụ thể [19].
Biện pháp là một phạm trù mang tính biện chứng nhưng không phải bất biến mà nó có sự thay đổi phù hợp với tình huống, hoàn cảnh và nhu cầu thực tiễn. Trong biện pháp hàm chứa các yếu tố nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức. Những yếu tố này tác động qua lại với nhau. Việc xác định đúng biện pháp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết công việc, đạt được mục đích đề ra.
Theo Trần Thị Hương: “Biện pháp là cách thức, là con đường để tác động đến đối tượng”. Trong giáo dục, “biện pháp là yếu tố hợp thành của phương pháp, phụ thuộc vào phương pháp. Trong tình huống sư phạm cụ thể, phương pháp và biện pháp giáo dục có thể chuyển hoá lẫn nhau” [13].