Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục (mã số 62.01) của nghiên cứu sinh Bùi Việt Phú, bảo vệ năm 2009 tại Trường Đại học Giáo dục thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Phạm Tất Dong và TS. Đặng Xuân Hải, mang tiêu đề: "Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hoá".

Văn bản luận án xác định tính cấp thiết xuất phát từ bối cảnh cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) tại Việt Nam, đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ quá trình tiếp cận kinh tế tri thức. Công tác hướng nghiệp theo Quyết định số 126/CP ngày 19/3/1981 của Hội đồng Chính phủ bộc lộ những điểm không còn phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội mới. Hàng năm, cả nước có gần một triệu học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) và Bổ túc THPT đăng ký thi đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ), trung cấp chuyên nghiệp (TCCN), nhưng chỉ có trên 40% trúng tuyển; số học sinh còn lại thiếu định hướng nghề nghiệp cụ thể. Thực trạng giáo dục hướng nghiệp (GDHN) trong nhà trường bị buông lỏng, xem nhẹ, tách rời giữa học với hành; cơ sở vật chất (CSVC) và đội ngũ cán bộ, giáo viên chuyên trách thiếu thốn.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: GDHN đang bị bó hẹp trong phạm vi trường THPT và các trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp (KTTH-HN), chưa huy động được các lực lượng xã hội tham gia; các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực ngoài nhà trường chưa được khai thác hiệu quả; chưa hình thành được cơ chế phối hợp đồng bộ giữa nhà trường với gia đình, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội theo tinh thần xã hội hóa giáo dục.

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá (XHH), đề xuất các giải pháp tổ chức GDHN nhằm thực hiện có hiệu quả công tác này trong trường THPT.

Giả thuyết khoa học của đề tài được xác định: Công tác tổ chức GDHN ở trường THPT đang còn nhiều bất cập về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nếu nhà trường thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá bao gồm: tổ chức nhận thức; tổ chức nội dung; cung ứng nhân lực; cung ứng vật lực, tài lực; và tổ chức cơ chế phối hợp GDHN thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả GDHN cho học sinh THPT, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển của đất nước.

Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 3 nhiệm vụ chính:

  1. Xây dựng cơ sở lý luận tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần XHH.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng GDHN và tổ chức GDHN cho học sinh phổ thông theo tinh thần XHH.
  3. Đề xuất các giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá.

Khách thể nghiên cứu là công tác quản lý hoạt động GDHN cho học sinh trường THPT của các cấp quản lý giáo dục. Đối tượng nghiên cứu là việc tổ chức GDHN cho học sinh THPT với sự tham gia của các lực lượng xã hội. Phạm vi nghiên cứu về nội dung tập trung vào công tác tổ chức GDHN ở cấp tỉnh và cấp trường THPT; phạm vi địa bàn khảo sát thực trạng gồm 21 trường THPT và 14 trung tâm KTTH-HN tại 2 tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh; phạm vi thử nghiệm thực hiện tại 6 trường THPT thuộc tỉnh Quảng Trị và thành phố Đà Nẵng trong năm học 2005 - 2006.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại hệ thống tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến GDHN và xã hội hóa giáo dục:

Về các công trình quốc tế, tác giả phân tích:

  • Tại Pháp: Xuất hiện tài liệu hướng dẫn chọn nghề từ giữa thế kỷ XIX; chương trình cải cách giáo dục năm 1975 đưa môn Công nghệ vào nhà trường. Các công trình của các tác giả tại Viện Nghiên cứu Quốc gia về Lao động và Hướng nghiệp Paris như Anne Lancry-Hoest Landt, Resgis Ouvrier-Bonnaz, Rene-Pierre Halter đã phân tích mô hình GDHN tại Pháp và châu Âu, nhấn mạnh vai trò của thị trường lao động và sự tham gia phối hợp của các tổ chức xã hội với các trung tâm hướng nghiệp.
  • Tại Liên Xô (cũ) và Nga: N.K. Krupskaya phát triển nguyên lý giáo dục kỹ thuật tổng hợp (GDKT-TH) của V.I. Lenin; M.N. Skatkin trong tác phẩm "Hoàn thiện quá trình dạy học" nhấn mạnh lý thuyết phải soi sáng thực hành lao động sản xuất; N. Pokrovsky xây dựng chiến lược trường học Xô Viết dựa trên GDKT-TH; P.R. Atutov nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa giáo dục công nghệ, GDKT-TH và giáo dục nghề nghiệp. Bộ Giáo dục Nga năm học 1994 - 1995 thí điểm chương trình Công nghệ thay cho chương trình Lao động và Kỹ thuật.
  • Tại Trung Quốc: Đưa môn kỹ thuật lao động vào giảng dạy bắt buộc từ tiểu học đến THCS và THPT, kết hợp cơ sở sản xuất, dịch vụ tham gia cùng nhà trường, thành lập bộ phận chuyên môn tư vấn tâm lý và nghề nghiệp.
  • Tại Hoa Kỳ: Chương trình giáo dục nghề nghiệp (Career Education) trong trường phổ thông; thành lập các hội đồng phối hợp giữa nhà trường, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, thu hút 60.000 nghiệp đoàn tham gia và hơn 600.000 học sinh thực hành hàng năm tại các cơ sở sản xuất.
  • Tại Đức: Hệ thống phân luồng học sinh sau lớp 5 để định hướng học hết lớp 10 đi học nghề hoặc học hết lớp 12, 13 thi tú tài vào đại học. Các công trình của Heinz Frankiewicz, B. Marschneider (CHDC Đức) nghiên cứu sự phối hợp giữa trung tâm GDKT-TH với trường phổ thông.
  • Tại Úc: Khái niệm Career Education với 4 nhiệm vụ cốt lõi: học về bản thân trong quan hệ với lao động, học về thế giới việc làm, học làm kế hoạch và ra quyết định, ứng dụng các quyết định; công trình của Allan Walker nghiên cứu quản lý giáo dục thích ứng chuyển dịch lao động.
  • Tại Nhật Bản: Nghiên cứu của Magumi Nishino về bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cơ bản; Luật duy trì hệ thống khuyến khích học tập suốt đời ban hành năm 1990.
  • Tài liệu UNESCO: Báo cáo của Jacques Delors về 4 cột trụ giáo dục: học để biết, học để làm việc, học để chung sống, học để tồn tại.

Về các công trình trong nước:

  • Tác giả Phạm Minh Hạc định hướng nền giáo dục phục vụ công nghệ và ưu tiên giáo dục nghề nghiệp.
  • Tác giả Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Đoàn Chi nghiên cứu hứng thú, khuynh hướng nghề nghiệp và chương trình hướng nghiệp chính khóa.
  • Viện Khoa học Dạy nghề và Tổng cục Dạy nghề (1979 - 1986) nghiên cứu mô tả nghề, xây dựng phòng hướng nghiệp (Đặng Danh Ánh, Nguyễn Viết Sự, Đỗ Thị Hòa, Phạm Đức Quang).
  • Các tác giả Nguyễn Trọng Bảo, Đoàn Chi, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Viết Sự, Nguyễn Toàn nghiên cứu vai trò của giáo dục kỹ thuật tổng hợp và phân luồng học sinh.
  • Tác giả Nguyễn Văn Hộ nghiên cứu hệ thống hướng nghiệp học sinh và cơ sở sư phạm của GDHN.
  • Đề tài cấp nhà nước do Phạm Tất Dong cùng Vũ Văn Tảo, Nguyễn Như Ất, Lưu Đình Mạc, Phạm Huy Thụ khảo sát công tác GDHN tại 35 tỉnh, thành phố, đề xuất đưa môn Công nghệ thay thế môn Kỹ thuật công nghiệp/nông nghiệp.
  • Các công trình của Nguyễn Văn Lê, Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân, Nguyễn Đức Trí, Phạm Ngọc Uyển, Vũ Tiến Trinh phân tích mất cân đối cung - cầu lao động và tư vấn nghề.
  • Luận văn thạc sĩ của Đào Công Minh (2006) tại Hải Phòng và Nguyễn Ngọc Minh (2007) về nhận thức của giáo viên trong tư vấn hướng nghiệp.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: Các nghiên cứu trước đây tập trung vào lý luận GDHN nói chung, nội dung môn học kỹ thuật hoặc quản lý nội bộ nhà trường; chưa có công trình đi sâu nghiên cứu việc tổ chức GDHN cho học sinh THPT dưới góc độ quản lý gắn với tinh thần xã hội hoá, cụ thể là xây dựng cơ chế phối hợp đa lực lượng, thiết kế bộ máy tổ chức và huy động các nguồn lực xã hội hóa (nhân lực, vật lực, tài lực) trên địa bàn cấp tỉnh và nhà trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục, Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 11/1/1979 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục, Luật Giáo dục năm 2005 (Điều 12 về trách nhiệm của xã hội đối với giáo dục), Nghị quyết 90/CP, Nghị định 73/1999/NĐ-CP và Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa.

Các khái niệm công cụ và khung phân tích được luận án xác định:

  • Hướng nghiệp: Là hệ thống các biện pháp sư phạm, tâm lý, y học, kinh tế - xã hội của gia đình, nhà trường và xã hội giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân và nhu cầu nhân lực xã hội. Cấu trúc công tác hướng nghiệp bao gồm 3 khâu có mối quan hệ hữu cơ: Định hướng nghề - Tư vấn nghề - Tuyển chọn nghề.
  • Tổ chức và tổ chức GDHN: Vận dụng lý thuyết quản lý của P.M. Kerzhentsev (tổ chức gồm 7 yếu tố: mục tiêu, loại hình tổ chức, phương pháp, con người, phương tiện vật chất, thời gian, sự kiểm tra) và quan điểm xã hội học của G. Buschges (5 đặc trưng và 3 đặc điểm của tổ chức). Tổ chức GDHN cho học sinh THPT được xem xét với tư cách là một chức năng quản lý, bao gồm việc xây dựng cơ cấu tổ chức, bộ máy chỉ đạo, phân công trách nhiệm và bảo đảm các điều kiện thực hiện.
  • Giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần xã hội hoá: Là việc tăng cường tính xã hội của hoạt động GDHN bằng cách huy động các lực lượng xã hội (chính quyền, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, trường đào tạo nghề, hội cha mẹ học sinh, đoàn thể) cùng nhà trường tham gia; vận dụng nguyên tắc "Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, nhà trường làm nòng cốt, các lực lượng xã hội phối hợp và hỗ trợ".

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm phương pháp tiếp cận hỗn hợp:

  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp tài liệu, văn kiện, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và các công trình khoa học trong, ngoài nước.
  • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, học sinh THPT, cán bộ trung tâm KTTH-HN và chuyên gia tại các địa bàn nghiên cứu để khảo sát thực trạng và khảo nghiệm tính cần thiết, khả thi của các giải pháp.
  • Phương pháp tọa đàm, phỏng vấn sâu: Thực hiện đối với cán bộ quản lý, giáo viên, đại diện doanh nghiệp, phụ huynh học sinh.
  • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Đánh giá mô hình tổ chức GDHN công lập và ngoài công lập, các báo cáo thực tiễn tại cơ sở.
  • Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm sư phạm: Tổ chức thử nghiệm 3 nhóm giải pháp tại 6 trường THPT thuộc tỉnh Quảng Trị và TP. Đà Nẵng năm học 2005 - 2006.
  • Phương pháp chuyên gia và phương pháp so sánh.

Nguồn tư liệu và quy mô khảo sát: Dữ liệu thực trạng thu thập từ 21 trường THPT và 14 trung tâm KTTH-HN tại 2 tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh; số liệu thống kê quốc gia giai đoạn 1980 - 2006 về phân luồng, số lượng trường nghề, trung tâm KTTH-HN, và cơ cấu lao động theo định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010.

Chỉ tiêu kinh tế - lao động trong Chiến lược phát triển KT-XH 2001 - 2010 Mốc năm 2001 Mục tiêu đến năm 2010
Tỷ trọng GDP ngành nông nghiệp 25,75% 16% - 17%
Tỷ trọng GDP ngành công nghiệp 33,35% 40% - 41%
Tỷ trọng GDP ngành dịch vụ 41,00% 43,00%
Tỷ lệ lao động nông nghiệp 76,00% 50,00%
Tỷ lệ lao động công nghiệp và dịch vụ 24,00% 50,00%
Tỷ lệ lao động qua đào tạo (ghi nhận năm 2005) 24,80% Nâng cao chất lượng
Hệ số sử dụng máy móc, công cụ cơ giới bình quân 20% - 30% Cơ khí hoá, tự động hoá
Tỷ lệ sản xuất thủ công bằng dụng cụ thô sơ 70% - 80% Giảm dần

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục hướng nghiệp, quản lý giáo dục và xã hội hóa giáo dục. Tác giả làm rõ lịch sử phát triển GDHN trên thế giới và tại Việt Nam từ sau Nghị quyết 14-NQ/TW (1979) và Quyết định 126/CP (1981). Luận án xác định cấu trúc công tác hướng nghiệp gồm 3 khâu có mối liên hệ mật thiết: định hướng nghề (cung cấp thông tin nghề nghiệp, thị trường đào tạo, việc làm), tư vấn nghề (đưa ra lời khuyên dựa trên đối chiếu đặc điểm tâm sinh lý với yêu cầu nghề) và tuyển chọn nghề (đối chiếu yêu cầu tuyển dụng để chọn người phù hợp).

Về mặt tổ chức, tác giả phân tích khái niệm theo lý thuyết quản lý của P.M. Kerzhentsev và tiếp cận cấu trúc hệ thống của G. Buschges, từ đó định nghĩa tổ chức GDHN cho học sinh THPT là một chức năng quản lý nhằm thiết lập cơ cấu tổ chức, nhân sự, cơ chế vận hành và huy động nguồn lực thực hiện mục tiêu hướng nghiệp. Luận án xây dựng cơ cấu tổ chức GDHN trường phổ thông gồm Hiệu trưởng chỉ đạo trực tiếp Ban Hướng nghiệp, phối hợp các tổ chuyên môn, tổ giáo viên chủ nhiệm và Đoàn Thanh niên; đồng thời nâng cấp thành mô hình tổ chức theo tinh thần xã hội hóa có sự tham gia của các tổ chức kinh tế, xã hội, doanh nghiệp và hội đồng giáo dục địa phương.

Chương này xác lập 5 quan điểm đổi mới tổ chức GDHN cho học sinh THPT:

  1. Hướng nghiệp phải bám sát yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động (giảm nông nghiệp, tăng công nghiệp và dịch vụ).
  2. Hướng nghiệp phải phục vụ nhu cầu phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
  3. Hướng nghiệp phải đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường và tính đến xu thế phát triển của kinh tế tri thức (chuẩn bị nhân lực cho 4 lĩnh vực công nghệ mũi nhọn: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa).
  4. Hướng nghiệp gắn việc học tập của học sinh với việc làm chủ công nghệ mới.
  5. Hướng nghiệp gắn với quá trình dạy học phân ban THPT.

Chương 2: Cơ sở thực tiễn về GDHN và tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần XHH

Chương 2 trình bày bức tranh thực trạng công tác GDHN và tổ chức GDHN tại Việt Nam nói chung và tại 2 tỉnh Quảng Trị, Hà Tĩnh nói riêng. Tác giả khảo sát việc thực hiện GDHN qua 4 con đường trong trường THPT: tích hợp qua giảng dạy các môn văn hóa; qua môn Công nghệ (trước đây là Kỹ thuật); qua sinh hoạt hướng nghiệp định kỳ; và qua hoạt động lao động sản xuất, học nghề phổ thông.

Các dữ liệu điều tra thực tiễn chỉ ra những tồn tại:

  • Công tác GDHN chưa được các cấp quản lý giáo dục quan tâm đúng mức; nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh và học sinh về phân luồng còn lệch lạc, tâm lý chuộng bằng cấp và xu hướng đổ xô thi vào đại học vẫn chiếm ưu thế.
  • Đội ngũ giáo viên làm công tác hướng nghiệp thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn; đa số là giáo viên kiêm nhiệm các môn văn hóa, chưa được đào tạo bài bản về tâm lý học nghề nghiệp và kỹ năng tư vấn hướng nghiệp.
  • Cơ sở vật chất, trang thiết bị tại các trường THPT và trung tâm KTTH-HN xuống cấp, lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu tiếp cận công nghệ sản xuất hiện đại.
  • Việc huy động các nguồn lực xã hội theo tinh thần XHH còn mang tính hình thức; chưa có quy chế pháp lý rõ ràng quy định quyền lợi, trách nhiệm của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất khi tiếp nhận học sinh phổ thông đến tham quan, thực tập. Mối quan hệ giữa nhà trường - doanh nghiệp - cộng đồng chưa được thể chế hóa thành cơ chế phối hợp hoạt động thường xuyên.
Danh mục bảng số liệu thực trạng trong luận án Nội dung phản ánh trong văn bản
Bảng 1: Kết quả điều tra 4 con đường GDHN Đánh giá mức độ thực hiện và hiệu quả của 4 con đường GDHN trong trường THPT
Bảng 2: Số lượng GV dạy CN & HN một số tỉnh Thực trạng quy mô, cơ cấu đội ngũ giáo viên Công nghệ và Hướng nghiệp
Bảng 3: Số trường, số HS học nghề qua các năm Biến động quy mô học nghề phổ thông của học sinh
Bảng 4: Số lượng trung tâm KTTHHN từ 1980 – 2006 Quá trình phát triển mạng lưới trung tâm KTTH-HN trên cả nước
Bảng 5: Số HSPT được HN tại các trung tâm KTTH-HN Số lượng học sinh phổ thông tham gia hoạt động hướng nghiệp tại trung tâm
Bảng 6: Số lượng trường học và HS, SV qua các năm Thực trạng tương quan quy mô phát triển giữa các bậc học và hệ thống đào tạo
Bảng 7: Kết quả điều tra nguyên nhân hạn chế của GDHN Thống kê nhận định của cán bộ quản lý, giáo viên về các nguyên nhân bất cập

Chương 3: Một số giải pháp tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp tổ chức GDHN theo tinh thần XHH dựa trên các nguyên tắc: đảm bảo tính mục tiêu; tính thực tiễn và khả thi; tính đồng bộ, hệ thống; và tính hiệu quả. Tác giả xây dựng 5 nhóm giải pháp quản lý:

  1. Nhóm giải pháp về Tổ chức nhận thức: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và toàn xã hội về vị trí, vai trò của GDHN và phân luồng; quán triệt chủ trương xã hội hóa GDHN; tuyên truyền về yêu cầu nguồn nhân lực và thị trường lao động.
  2. Nhóm giải pháp về Tổ chức nội dung: Đổi mới nội dung GDHN theo hướng hiện đại, tích hợp; gắn nội dung sinh hoạt hướng nghiệp với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và dạy học phân ban; giới thiệu về các ngành công nghệ cao, kinh doanh dịch vụ và các nghề truyền thống địa phương; xây dựng tài liệu hướng dẫn cụ thể cho các hình thức hướng nghiệp.
  3. Nhóm giải pháp về Cung ứng nhân lực: Kiện toàn Ban Hướng nghiệp cấp trường; xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chuyên trách và kiêm nhiệm làm công tác GDHN; huy động các chuyên gia, kỹ sư, nhà khoa học, nghệ nhân, nhà quản lý doanh nghiệp tham gia giảng dạy, tư vấn nghề cho học sinh.
  4. Nhóm giải pháp về Cung ứng vật lực, tài lực: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phòng hướng nghiệp trong nhà trường; tận dụng trang thiết bị máy móc tại các trung tâm KTTH-HN, cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp; đa dạng hóa nguồn tài chính thông qua huy động sự đóng góp tự nguyện của các tổ chức kinh tế, xã hội, hội cha mẹ học sinh và các dự án phát triển.
  5. Nhóm giải pháp về Tổ chức cơ chế phối hợp: Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành giữa ngành giáo dục với các sở, ban ngành, đoàn thể (Đoàn Thanh niên, Hội đồng Giáo dục, Hội Khuyến học) và doanh nghiệp; phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của các bên tham gia; thành lập Hội đồng phối hợp GDHN cấp địa phương để điều phối hoạt động.
Danh mục bảng số liệu khảo nghiệm và thử nghiệm giải pháp Nội dung số liệu ghi nhận trong luận án
Bảng 8: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi Đánh giá của chuyên gia và CBQL về độ cấp thiết và tính khả thi của các nhóm giải pháp
Bảng 9: Số lượng HS, GV các trường THPT thử nghiệm Thống kê số lượng giáo viên, học sinh tại 6 trường THPT tham gia thực nghiệm
Bảng 10: Tổng hợp kết quả thử nghiệm 3 nhóm giải pháp Đánh giá định lượng sự chuyển biến về nhận thức, thái độ chọn nghề sau thử nghiệm
Bảng 11: Số lượng HS dự thi ĐH, CĐ tỉnh Quảng Trị Số liệu thực tế học sinh đăng ký thi ĐH, CĐ tại địa bàn nghiên cứu

Tác giả đã tổ chức thử nghiệm đồng bộ 3 nhóm giải pháp (Tổ chức nhận thức; Tổ chức nội dung; Tổ chức cơ chế phối hợp) tại 6 trường THPT thuộc tỉnh Quảng Trị và TP. Đà Nẵng trong năm học 2005 - 2006. Kết quả thử nghiệm cho thấy sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của học sinh về việc chọn nghề, giảm tỷ lệ lựa chọn nghề mang tính tự phát và tăng tính chủ động tiếp cận thông tin đào tạo nghề, khẳng định tính khả thi của hệ thống giải pháp đề xuất.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giáo dục hướng nghiệp, bản chất của xã hội hóa giáo dục và đặc thù của việc tổ chức GDHN theo tinh thần xã hội hóa ở cấp THPT trong giai đoạn CNH - HĐH và hội nhập kinh tế. Công trình hệ thống hóa các khái niệm công cụ, làm rõ mối quan hệ giữa 3 khâu của hướng nghiệp (định hướng nghề - tư vấn nghề - tuyển chọn nghề) và xác định tổ chức GDHN là một chức năng quản lý giáo dục quan trọng của nhà trường phổ thông và các cơ quan quản lý giáo dục địa phương.

Về mặt thực tiễn, luận án:

  • Làm rõ bức tranh thực trạng công tác GDHN tại trường THPT và trung tâm KTTH-HN, chỉ ra 4 con đường GDHN đang vận hành kém hiệu quả, phân tích rõ nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ phương thức tổ chức và cơ chế quản lý của các cấp trong hệ thống giáo dục quốc dân.
  • Cung cấp nguồn số liệu khảo sát thực tế tại 21 trường THPT và 14 trung tâm KTTH-HN thuộc tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh, phản ánh sự bất cập giữa quy mô đào tạo đại học với công tác phân luồng nghề nghiệp.
  • Đề xuất và khảo nghiệm hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao nhằm tổ chức GDHN theo tinh thần XHH: tổ chức nhận thức; tổ chức nội dung; cung ứng nhân lực; cung ứng vật lực, tài lực; và tổ chức cơ chế phối hợp liên lực lượng.
  • Khẳng định tính hiệu quả qua kết quả thử nghiệm thực tế tại 6 trường THPT thuộc tỉnh Quảng Trị và TP. Đà Nẵng trong năm học 2005 - 2006.

Về mặt kiến nghị, luận án đề xuất các giải pháp đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cấp chính quyền địa phương và nhà trường phổ thông:

  • Hoàn thiện thể chế, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể quyền lợi, nghĩa vụ của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội khi tham gia GDHN cho học sinh phổ thông.
  • Bố trí chỉ tiêu biên chế và chính sách đãi ngộ thỏa đáng cho cán bộ, giáo viên làm công tác tư vấn hướng nghiệp chuyên trách tại các trường THPT.
  • Tăng cường đầu tư ngân sách, đồng thời ban hành cơ chế tài chính linh hoạt để các trường chủ động liên kết, khai thác nguồn lực xã hội hóa phục vụ hoạt động hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định rõ phạm vi nghiên cứu thực tiễn chỉ giới hạn khảo sát thực trạng tại 21 trường THPT và 14 trung tâm KTTH-HN trên địa bàn 2 tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh. Đây là hai địa phương có điều kiện công nghiệp chưa phát triển mạnh, chưa phản ánh đầy đủ bối cảnh đa dạng của các đô thị lớn, khu công nghiệp tập trung hoặc vùng đồng bằng phát triển cao. Quy mô thử nghiệm giải pháp mới chỉ được thực hiện tại 6 trường THPT thuộc tỉnh Quảng Trị và TP. Đà Nẵng trong phạm vi một năm học (2005 - 2006).

Về hướng nghiên cứu tiếp, từ giới hạn phạm vi nghiên cứu, các công trình tiếp theo có thể:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm mô hình tổ chức GDHN theo tinh thần xã hội hóa trên các vùng kinh tế trọng điểm, các thành phố lớn có mạng lưới doanh nghiệp và dịch vụ phát triển.
  • Đi sâu nghiên cứu cơ chế chính sách tài chính và chế tài pháp lý cụ thể nhằm khuyến khích doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động hướng nghiệp phổ thông.
  • Xây dựng chuẩn nghề nghiệp và chương trình đào tạo chính quy chức danh giáo viên/chuyên viên tư vấn hướng nghiệp chuyên trách trong các cơ sở giáo dục phổ thông.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý giáo dục tại các Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo: Tham khảo mô hình cơ cấu tổ chức và cơ chế phối hợp liên ngành (Sơ đồ 5 và Sơ đồ 6 tại Chương 3) để xây dựng quy chế phối hợp giữa ngành giáo dục với các ban ngành, đoàn thể và doanh nghiệp trên địa bàn cấp tỉnh, huyện.
  • Hiệu trưởng và Ban Giám hiệu các trường THPT: Sử dụng khung 5 nhóm giải pháp tại Chương 3 để kiện toàn Ban Hướng nghiệp nhà trường, thiết kế nội dung sinh hoạt hướng nghiệp, phân công giáo viên chủ nhiệm phối hợp với phụ huynh và nghệ nhân, doanh nhân địa phương.
  • Cán bộ, giáo viên tại các trung tâm KTTH-HN: Tham khảo dữ liệu đánh giá thực trạng mạng lưới trung tâm KTTH-HN giai đoạn 1980 - 2006 (Chương 2) và phương thức liên kết dạy nghề gắn với nhu cầu thị trường.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục: Kế thừa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục theo tinh thần xã hội hóa (Chương 1) và hệ thống phiếu hỏi, quy trình điều tra, thử nghiệm giải pháp sư phạm (Phần phụ lục).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định cấu trúc công tác hướng nghiệp gồm những khâu nào và mối quan hệ giữa chúng ra sao? Theo Sơ đồ 1 tại Chương 1, công tác hướng nghiệp gồm 3 khâu: Định hướng nghề, Tư vấn nghề và Tuyển chọn nghề. Ba khâu này có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau; khâu tuyển chọn nghề tuy không phải chức năng trực tiếp của trường phổ thông nhưng lại xuyên suốt hai quá trình định hướng nghề và tư vấn nghề, không được coi nhẹ bất kỳ khâu nào.

2. Thực trạng phân luồng học sinh sau THPT được luận án phản ánh qua số liệu nào? Văn bản luận án nêu rõ: Hàng năm cả nước có gần một triệu học sinh tốt nghiệp THPT và Bổ túc THPT đăng ký dự thi ĐH, CĐ, TCCN; trong số đó có trên 40% được tuyển, số còn lại không vào được hệ thống chuyên nghiệp và chưa được chuẩn bị chu đáo về nghề nghiệp để tham gia vào thị trường lao động.

3. Khảo sát thực trạng của đề tài được triển khai trên quy mô mẫu như thế nào? Tác giả tiến hành khảo sát thực trạng tại 21 trường THPT và 14 trung tâm KTTH-HN thuộc 2 tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh. Phần thử nghiệm giải pháp được thực hiện tại 6 trường THPT thuộc tỉnh Quảng Trị và TP. Đà Nẵng trong năm học 2005 - 2006.

4. Luận án đề xuất mấy nhóm giải pháp tổ chức GDHN theo tinh thần xã hội hoá? Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ tại Chương 3: (1) Nhóm giải pháp về Tổ chức nhận thức; (2) Nhóm giải pháp về Tổ chức nội dung; (3) Nhóm giải pháp về Cung ứng nhân lực; (4) Nhóm giải pháp về Cung ứng vật lực, tài lực; (5) Nhóm giải pháp về Tổ chức cơ chế phối hợp.

5. Khái niệm "Xã hội hoá" và "Xã hội hoá giáo dục" được luận án tiếp cận theo các căn cứ pháp lý và học thuật nào? Thuật ngữ được truy nguyên từ Paris (1902 - 1903) với định nghĩa "Socialisation méthodique"; các định nghĩa xã hội học của N. Gontscharow, Krow; tiếp cận chính sách qua Nghị quyết 90-NQ/CP (1997), Nghị định 73/1999/NĐ-CP (1999), Nghị quyết 05/2005/NQ-CP (2005) và Điều 12 Luật Giáo dục sửa đổi năm 2005, khẳng định XHHGD là huy động toàn xã hội làm giáo dục dưới sự quản lý của Nhà nước.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Bùi Việt Phú đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hoá dưới góc độ khoa học quản lý giáo dục. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận, phân tích thực trạng bất cập trong công tác GDHN tại các trường THPT và trung tâm KTTH-HN thuộc hai tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh, chỉ ra nguyên nhân chủ yếu nằm ở phương thức quản lý và cơ chế tổ chức thực hiện. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được xây dựng đồng bộ từ tổ chức nhận thức, nội dung, cung ứng nhân lực, vật lực, tài lực đến cơ chế phối hợp đã được khảo nghiệm và thử nghiệm thực tế, chứng minh tính khả thi trong việc nâng cao hiệu quả phân luồng và định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông.