Chương 1: Cơ sở lý luận tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá. + Chương 2: Cơ sở thực tiễn về GDHN và tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần XHH. + Chương 3: Một số giải pháp tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá. z 13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT THEO TINH THẦN XÃ HỘI HOÁ 1.
TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP VÀ GDHN THEO TINH THẦN XÃ HỘI HÓA 1. Ở nƣớc ngoài Công tác GDHN trên thế giới được ra đời khá sớm. Từ giữa thế kỷ XIX, ở Pháp đã xuất hiện cuốn sách "Hướng dẫn chọn nghề" mà nội dung chủ yếu là vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp. Sau cải cách giáo dục 1975, nhà trường Pháp đều chú trọng đến GDHN qua dạy môn Công nghệ; coi trọng việc chuẩn bị cho HS tâm lý sẵn sàng đi vào lao động.
Việc đưa bộ môn công nghệ vào trường học được thể hiện rõ nhất trong công trình khoa học "Những vấn đề nội dung giáo dục trong nhà trường Pháp". Nhiều công trình khoa học của các tác giả ở viện nghiên cứu Quốc gia về lao động và hướng nghiệp Paris: Anne Lancry-Hoest Landt [123; 5-22]; Resgis Ouvrier-Bonnaz [65; 49-68] ; Rene-Pierre Halter [65; 38-48], đã giới thiệu một cách chi tiết, linh động mô hình GDHN ở Pháp và châu Âu xét từ góc độ lý thuyết và kinh nghiệm được rút ra từ hàng trăm năm nay. Các tác giả đã nhấn mạnh đến môi trường học đường, thị trường lao động, vai trò to lớn của các trung tâm HN trong công tác tổ chức GDHN cho HS và thanh, thiếu niên; trong đó các tổ chức xã hội đã có nhiều đóng góp trong việc phối hợp với nhà trường và các trung tâm trong việc tổ chức GDHN. Ở Nga, nhiều nhà khoa học nổi tiếng đã phát triển lý luận về GDHN.
Trong đó phải kể đến N. là những nhà khoa học có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giáo dục lao động kỹ thuật tổng hợp (LĐKT-TH) trong những năm 70 của thế kỷ XX. Các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu ý tưởng "học tập kết hợp với lao động sản xuất" để hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh. Những ý tưởng đó có giá trị lớn cả về chính trị lẫn kinh tế.Krupxkaia đã phát triển nguyên lý GDKT-TH của V.
Bà nhấn mạnh nguyên lý này phải được quán triệt vào các môn học của nhà trường và giữa các môn học với nhau phải có sự quan hệ mật thiết, liên hệ với hoạt động thực tiễn, nhất là đối với học môn kỹ thuật (nay là công nghệ).Xcatkin trong cuốn sách "Hoàn thiện quá trình dạy học" đã khẳng định: cần phải thực hiện sao cho học tập lý thuyết soi sáng con đường thực hành lao động sản xuất (LĐSX), còn lao động phải giúp cho việc nắm kiến thức một cách có ý thức. Giáo viên dạy lao động cần trang bị cho học sinh những kiến thức kỹ năng, kỹ thuật tổng hợp đại cương cần thiết đối với người lao động trong các nghề khác nhau.N Pokrovxki đã xây dựng chiến lược chung của nhà trường Xô Viết, trong đó coi trọng "Quan điểm nhà trường GDKT-TH là tư tưởng cơ bản xây dựng dựa trên tính hiện đại và trở thành mẫu mực của xã hội mới". Trong những năm 1956 - 1966 Liên Xô tiến hành cải cách giáo dục. Luật giáo dục được xây dựng 1958 rất coi trọng việc củng cố mối liên hệ giữa nhà trường với đời sống và "Học sinh lớp lớn trường phổ thông ban ngày phải gắn liền học tập với hoạt động LĐSX".
Sau đó, cuộc cải cách giáo dục giai đoạn 1984 - 1986 đã rất coi trọng giáo dục lao động với HN cho HSPT trên cơ sở gắn học tập với LĐSX. Atutov đặc biệt coi trọng giáo dục công nghệ với GDKT-TH và GD nghề. Ông cho rằng cả hai loại hình đó có mối quan hệ tương hỗ biện chứng trong quá trình GDKT-TH, học sinh nắm vững kiến thức kỹ năng hướng vào hoạt động biến đổi; kết quả đó được thể hiện bằng sự học tập z 15 môn công nghệ. Nói cách khác, giáo dục công nghệ ở trường PT phải thể hiện tinh thần GDKT-TH.
Đây là những vấn đề mới mà các nhà khoa học trước đó chưa đề cập đến. Hiện nay, giáo dục ở Liên bang Nga không tách GDHN ra khỏi GD công nghệ đại cương và giáo dục lao động của trường PT, nhất là đối với HS THPT thì nội dung, phương pháp tổ chức dạy học các môn KH và công nghệ mang tính phân hóa, nhằm mục tiêu GDHN cho học sinh lớn vào các trường nghề hoặc bước vào cuộc sống. Đầu năm học 1994 - 1995, Bộ giáo dục Nga chủ trương tiến hành thí điểm dạy chương trình Công nghệ thay cho chương trình dạy Lao động và Kỹ thuật (LĐ&KT) thời Xô Viết mà đến 1992 – 1993 vẫn duy trì. Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng trong những thời điểm lịch sử khác nhau dù thực hiện chương trình LĐ&KT hay công nghệ thì mục đích chung của GDHN vẫn là chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc sống để đáp ứng với yêu cầu công nghệ hiện đại và sự phát triển của XH.
Trung Quốc rất chú trọng đến GDHN cho học sinh, học sinh được học môn lao động kỹ thuật ngay từ bậc tiểu học. Mục tiêu chủ yếu của bộ môn này ở bậc tiểu học là GD ý thức, thái độ lao động cho HS và cung cấp cho HS một số kiến thức, kỹ năng tối thiểu. Ở cấp THCS và THPT, học sinh được học môn kỹ thuật lao động và được thực hành ngay trong trường học một số nội dung như chế biến, gia công đồ gỗ, kim loại, lắp ráp điện, điện tử, các nghề thủ công truyền thống. Học sinh được tham gia lao động tại địa phương và các nhà máy, cơ sở sản xuất dịch vụ.
Các cơ sở này đã trực tiếp tham gia cùng với nhà trường GDHN cho học sinh PT. Môn kỹ thuật lao động trở thành bắt buộc trong hệ thống trường THCS và THPT, nhằm giúp học sinh có được kiến thức, kỹ năng và khả năng ứng dụng công nghệ vào cuộc sống. Trong các trường PT, bộ phận chuyên môn làm công tác tâm lý và tư vấn nghề cho HS, giúp các em khắc z 16 phục trở ngại về tâm lý trong quá trình học tập và định hướng chọn ngành nghề phù hợp với năng lực bản thân và thị trường lao động. Đặc biệt giáo dục nghề nghiệp đã được đưa vào loại hình trường THPT có dạy nghề khá sớm.
Học sinh vừa được trang bị học vấn PT và có kỹ năng cần thiết để có thể học lên bậc đại học hoặc ra làm việc theo ngành nghề được đào tạo ngay từ khi còn học PT. Việc đưa GD nghề nghiệp vào trường PT vừa đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực của xã hội, vừa góp phần quan trọng vào việc phân luồng học sinh THCS và THPT. Tại Hoa Kỳ, chương trình “giáo dục nghề nghiệp” đã được đưa vào các cấp học phổ thông, chương trình này đã tạo điều kiện cho học sinh được tham gia vào các quá trình công nghệ để giải quyết các vấn đề thực tế của đất nước. Việc huy động các tổ chức xã hội tham gia tổ chức GDHN cho học HSPT khá tốt.
Công tác tổ chức thành lập các Hội đồng bao gồm đại diện các trường học, xí nghiệp, các thành phần kinh tế… để thực hiện sự hợp tác giữa nhà trường với xã hội.000 nghiệp đoàn đã tham gia vào công việc của Hội đồng, mỗi năm học thu hút trên 600.000 học sinh thực hành tại các cơ sở sản xuất, dịch vụ. Hệ thống trường phổ thông Cộng hoà Liên bang Đức rất chú trọng nguyên tắc GDHN, chuẩn bị cho HS đi vào trường đào tạo nghề tùy theo trình độ và năng lực học tập của mỗi HS. Trẻ được phân loại ngay từ bậc tiểu học; Sau lớp 5, các trường học tiến hành phân loại HS dựa vào khả năng học tập của từng em để định hướng cho học hết lớp 10 rồi đi công nhân lành nghề - loại học hết lớp 12 và tiếp tục phân loại cho học sinh khá giỏi học lên lớp 13 thi tú tài toàn phần và và thi vào đại học. Sự phân loại đó đã thể hiện rõ nét công tác GDHN cho HS ngay từ đầu cấp THCS.
Như vậy, HS có thể học thành thạo một nghề hoặc nhiều nghề ngay khi đang học PT, đây là một quan điểm hiện đại. Các công trình nghiên cứu của các tác giả ở viện Hàn lâm khoa học giáo dục - Cộng hòa Dân chủ Đức như: Heinz Frankiewicz, B.Marschneider đã nêu lên sự phối hợp chặt chẽ giữa các trung tâm GDKT- TH với nhà trường PT trong công tác tổ chức cho học sinh thực tế thực tập tại các trung tâm hoặc các đơn vị sản xuất. Điều này cũng được các nhà khoa học ở Liên bang Đức chú ý khi nghiên cứu về việc tổ chức hoạt động lao động nghề nghiệp cho HSPT. Các tác giả đã đưa ra phương thức: “Phối hợp cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục KTTH và các trường PT trong việc lập kế hoạch thực tập cho HSPT” [73; tr 6].
Tại Úc giáo dục nghề nghiệp (Career Education) nhằm phát triển những kỹ năng, kiến thức và thái độ thông qua một chương trình học tập được kế hoạch hóa để giúp HS đưa ra những quyết định về việc lựa chọn có tính HN sau khi học xong bậc phổ thông. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra 4 nhiệm vụ của HSPT ở các trung tâm hướng nghiệp Úc; 4 nhiệm vụ này có mối quan hệ mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau: - Học về bản thân trong mối quan hệ với lao động: GDHN-LN đảm bảo cho HS được hiểu biết nhiều hơn về khả năng, thái độ của bản thân đối với các công việc, đối với lao động và về những ảnh hưởng của gia đình, bè bạn, cộng đồng đối với sự phát triển các khả năng và thái độ đó khi lựa chọn phương hướng lập nghiệp và tham gia thế giới việc làm. - Học về thế giới việc làm: GDHN-LN bảo đảm cho học sinh có cơ sở để tự quyết định về lập nghiệp qua sự tìm tòi, phân tích các vai trò lao động và sự đóng góp của lao động. - Học và làm kế hoạch và ra quyết định về HN, lập nghiệp.
- Ứng dụng những quyết định về HN- lập nghiệp và quản lý sự chuyển dịch sang lao động.