MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Việt Nam là một dân tộc có nền văn hoá chịu ảnh hƣởng sâu sắc bởi những quan niệm, tƣ tƣởng của Nho giáo. Chính vì thế, từ bao đời nay, nhân dân ta đã lƣu giữ và truyền dạy cho con cháu những truyền thống đạo đức quý báu, thiêng liêng. Tuy nhiên, những biến động không ngừng của xã hội đã khiến những quan niệm vốn khắt khe, kín đáo, tế nhị của dân tộc ta chịu ít nhiều ảnh hƣởng.
Quá trình toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ có ảnh hƣởng trên tất cả các lĩnh vực và tác động trực tiếp đến từng quốc gia, dân tộc, cá nhân, đặc biệt là đối với thế hệ học sinh – lớp ngƣời trẻ tuổi, tầng lớp thanh thiếu niên, nó tạo cho thanh thiếu niên một lối sống nhạy bén, năng động, tự lập phù hợp với xu thế thời đại. Mặt khác, quá trình ấy đƣa thanh thiếu niên tiếp cận với lối sống tự do phƣơng Tây và hình thành những quan niệm cởi mở, phóng khoáng hơn trong quan hệ nam nữ. Cũng chính vì thế, khái niệm “nam nữ thụ thụ bất thân” cũng dần không còn tồn tại trong đông đảo giới trẻ.Các công trình nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý đều cho thấy hiện nay lớp trẻ có sự phát dục ngày càng sớm và mạnh hơn so với các thế hệ trƣớc đây. Theo ƣớc tính của tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng 250 triệu ngƣời mắc các bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục.
Ở Việt Nam, nhóm tuổi thanh niên từ 16 đến 30 tuổi có khoảng 6,1 triệu ngƣời chiếm 1,3 % tổng số ngƣời trong độ tuổi lao động. Kinh tế xã hội phát triển, điều kiện sống của ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng cao, do ảnh hƣởng của lối sống văn hoá hiện đại, thanh niên nƣớc ta cũng nhƣ nhiều nƣớc khác trên thế giới bƣớc vào tuổi dậy thì và sinh sản sớm. Quan hệ tình dục (QHTD) trong điều kiện thiếu hiểu biết và kinh nghiệm phòng tránh thai có thể dẫn đến những hậu quả 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không mong muốn đối với thanh thiếu niên, đặc biệt là tình trạng nạo thai trƣớc hôn nhân và các tình trạng nạo thai trƣớc hôn nhân và các bệnh liên quan đến đƣờng tình dục. Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây cũng có rất nhiều những nghiên cứu xoay quanh vấn đề quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân (QHTD THN) và những hệ quả của nó.
Qua những báo cáo đó có thể thấy rằng, hiện tƣợng giới trẻ quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân ngày càng tăng cao. Điều này cho thấy, nhận thức và quan niệm của thế hệ trẻ về vấn đề tình dục ngày càng khác xa so với thế hệ trƣớc. Đây cũng là kết quả của sự biến đổi xã hội trong bối cảnh hiện nay, khi mà nền kinh tế - xã hội phát triển một cách nhanh chóng và đặc biệt là sự tiến bộ của ngành công nghệ thông tin đã góp phần du nhập một số những khuynh hƣớng quan niệm “thoáng” về tình dục từ các nƣớc trên thế giới. Những quan niệm này không hoàn toàn là lệch lạc, tuy nhiên, xét trên phạm vi văn hoá truyền thống và bối cảnh hiện tại của Việt Nam, nó đã gây ra những hậu quả xã hội khôn lƣờng, trở thành mối quan tâm, lo lắng của không chỉ các nhà nghiên cứu mà là của cả cộng đồng.
Thực trạng về vấn đề QHTD THN và những hậu quả của nó đối với tầng lớp thanh thiếu niên đặt ra nhiều suy nghĩ và cho toàn xã hội và điều đó khiến xã hội lo lắng về sự suy giảm sức khoẻ thể chất cũng nhƣ tinh thần của một bộ phận không nhỏ dân số trẻ. Đây cũng chính là vấn đề quan trọng của đất nƣớc trong quá trình hội nhập quốc tế cho bài toán lối sống, đạo đức và chất lƣợng cuộc sống gia đình, những tế bào tƣơng lai của xã hội. Đồng thời thực trạng và diễn biến của nó đặt các nhà hoạch định chính sách về dân số và kế hoạch hoá gia đình đứng trƣớc ngã ba đƣờng: những biện pháp để nâng cao nhận thức cho vị thành niên về tình dục và QHTD THN; nên hay không nên giáo dục hành vi QHTD an toàn cho vị thành niên và thanh niên; và những giải pháp nào sẽ phát huy đƣợc hiệu quả, hạn chế đƣợc tình trạng trên. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vấn đề QHTD THN đang là một vấn đề xã hội bức xúc, đáng báo động, cần có những số liệu, nghiên cứu và đánh giá đúng đắn, xác thực để có cái nhìn sâu sắc về thực trạng trên.
Tầng lớp học sinh - những ngƣời thông minh, nhạy bén với thời cuộc, có tầm nhìn phong phú, có tƣ tƣởng tiến bộ song không thể tránh khỏi những suy nghĩ tiêu cực, lệch lạc. Cũng vì thế, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu, đánh giá quan điểm, suy nghĩ của tầng lớp học sinh, đặc biệt là học sinh THPT về vấn đề nhạy cảm ấy là điều rất cần thiết để chúng ta có đƣợc cái nhìn khách quan toàn diện hơn. Từ việc khái quát bức tranh toàn cảnh về vấn đề QHTD THN, nghiên cứu sẽ đi sâu tìm hiểu về quan điểm của giới trẻ cũng nhƣ học sinh về vấn đề ấy. Đồng thời, chúng tôi tiến hành xem xét, nghiên cứu về các chƣơng trình giáo dục giới tính hiện nay để tìm ra những giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức, hành vi, thái độ của tầng lớp thanh thiếu niên đối với vấn đề tình dục trƣớc hôn nhân.
Từ đó, có những đề xuất, khuyến nghị tới gia đình, nhà trƣờng, các cơ quan chức năng và toàn xã hội về việc giáo dục, định hƣớng cho giới trẻ những quan điểm, lối sống phù hợp với chuẩn mực đạo đức Việt Nam và có những biện pháp kịp thời nhằm hạn chế thực trạng trên, nâng cao chất lƣợng cuộc sống, ổn định dân số. Với tất cả những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Hỗ trợ hoàn thiện chƣơng trình giáo dục giới tính nhằm khắc phục tình trạng quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân trong học sinh Trung học phổ thông hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp học sinh trường THPT Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ). Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Ở trên thế giới nghiên cứu về SKSS-GDGT có mặt rất sớm nhƣng đƣợc gọi với cái tên khác nhau chẳng hạn sức khỏe vị thành niên hay giới tình tình 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dục thanh thiếu niên.
Từ sau Hội Nghị Quốc tế về Dân số và phát triển ICPD tại Cairo (4/1994) sau khi định nghĩa chính thức về sức khỏe sinh sản đƣợc thống nhất phổ biến đến mọi quốc gia trên thế giới và là mối quan tâm của toàn xã hội thì vấn đề SKSS-GDGT đã đƣợc đẩy lên trình độ mới. Tại Châu Phi, vấn đề SKSS-GDGT ở châu lục này tập trung vào việc đẩy lùi nạn dịch AIDS thông qua hợp tác với Tổ chức Y Tế thế giới (WHO) và các tổ chức phi chính phủ (NGO). Những chƣơng trình này dạy cho họ và con em của họ các cách “ABC”, với A để phòng chống AIDS, B là chung thủy và C là dùng bao cao su. Ở Ai Cập, trẻ từ 12-14 tuổi đƣợc giáo viên giảng dạy những kiến thức giải phẫu sinh học nhƣ cấu tạo cơ quan sinh dục nam nữ, cơ chế hoạt động, quan hệ tình dục, nguyên nhân có thai và các bệnh truyền nhiễm qua đƣờng tình dục.
Tuy nhiên, các nghiên cứu cụ thể cho thấy, ở châu Phi, tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn dao động từ 50 – 90 % trong số thanh niên chƣa chồng và 25 – 40% trong số thanh niên có chồng[1]. Khảo sát các chƣơng trình giáo dục giới tính ở Châu Á cũng đang có những mức độ phát triển rất khác nhau. Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc có khung chính sách hệ thống về việc giảng dạy giới tính trong các trƣờng học. Malaysia, Philippines và Thái Lan đánh giá các nhu cầu sức khoẻ sinh sản thanh niên.
Ấn Độ có các chƣơng trình với mục tiêu hƣớng tới trẻ em từ chín tới mƣời sáu tuổi. Tại Nhật Bản, giáo dục giới tính là bắt buộc từ 10 hay 11 tuổi, chủ yếu đề cập tới các chủ đề sinh học nhƣ kinh nguyệt và xuất tinh. Tại Trung Quốc và Sri Lanka, giáo dục giới tính truyền thống gồm đọc về đoạn sinh sản trong các cuốn sách giáo khoa sinh học. Tuy nhiên, ở Bangladesh, Myanmar, Nepal và Pakistan thì không có những chƣơng trình GDGT nhƣ vậy[2].
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đối với các quốc gia châu Âu nhƣ Pháp, vào tháng 02/2000, Chính phủ Pháp quyết định đƣa kiến thức giới tính lên Đài truyền hình và sóng đài phát thanh, đồng thời phát khoảng 5 triệu tờ rơi cho học sinh phổ thông về các phƣơng pháp tránh thai an toàn, hiệu quả. Tại Đan Mạch, cuối những năm 80 của thế kỷ XX đã có chƣơng trình truyền hình đƣợc Chính phủ tài trợ đã trở thành kênh thông tin quen thuộc về giới tính và SKSS cho lứa tuổi vị thành niên. Chính vì thế, Đan Mạch là nƣớc có tỷ lệ trẻ vị thành niên mang thai thấp nhất thế giới và là hình mẫu “lý tƣởng” cho các nƣớc khác học tập cách thức GDGT trong trƣờng học. Tại Châu Mỹ, các trƣờng học đều đƣa GDGT vào chƣơng trình học của học sinh lớp 7-12, có nơi bắt đầu từ lớp 5, lớp 6.
Học sinh tiếp cận với kiến thức giới tính thuộc 2 kiểu: toàn diện kiến thức chung hoặc kiến thức sâu về một khía cạnh, vấn đề. Tuy nhiên, Mỹ lại là một trong những nƣớc có tỷ lệ sinh ở trẻ vị thành niên cao nhất thế giới (có khoảng 20% số phụ nữ sinh con trƣớc tuổi 20, tỷ lệ nhiễm bệnh qua đƣờng tình dục ở thanh thiếu niên cũng là cao nhất[3]. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng trên thế giới, việc triển khai các chƣơng trình giáo dục giới tính đã đƣợc thực hiện khá phổ biến và cũng đã đem đến những kết quả nhất định.Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn có rất nhiều vấn đề nảy sinh từ tình trạng QHTD THN, đòi hỏi mỗi quốc gia cần có những nhìn nhận và giải pháp hiệu quả hơn cho vấn đề này. ( [1], [2], [3]: Theo giáo dục giới tính toàn cầu của trang http://tailieu.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam. Ở Việt nam, trong thời gian gần đây, cùng với giáo dục dân số, GDGT cũng đã bắt đầu đƣợc quan tâm rộng rãi. Lứa tuổi THPT đang ở giai đoạn cuối thời kỳ dậy thì và bắt đầu giai đoạn thanh niên nên các em có sự thay đổi mạnh mẽ về tâm sinh lý.