CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Các nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp Ở các nước như: Anh, Mỹ, Úc thì khái niệm “đạo đức nghề nghiệp” thường được thể hiện ở khái niệm “thái độ” (Attitudes). Các nhà giáo dục ở các nước này có diễn đạt nội hàm của khái niệm này như lòng yêu nghề, tình thương đối với trẻ và tinh thần trách nhiệm cao trong dạy học. Tại Viện Đại học Doulas Mauson, bang Adelaid, Nam Úc, một số tác giả cho rằng: ĐĐNN là một yêu cầu không thể thiếu của bất cứ loại hình công việc nào. Mỗi loại nghề nghiệp đòi hỏi những người trong từng nghề nghiệp cần phải hội đủ các thành tố, đó là: Tri thức, Thái độ, Kỹ năng.
Mỗi nghề thường có một chuẩn mực đạo đức riêng biệt. Các tác giả không nói trực tiếp vào ĐĐNN, nhưng đề cập sâu về thái độ nghề nghiệp, những phẩm chất cần thiết của người lao động nghề nghiệp. [29; 30; 33; 77; 86; 103; 115; 119; 120] Tại bang Victoria - Úc với nghề sư phạm được xây dựng thành các quy định về chuẩn mực ĐĐNN của nghề dạy học bao gồm: sự tôn trọng người khác, lòng nhân hậu, sự công minh và công bằng, tính lương thiện và ngay thẳng. Các chuẩn mực ĐĐNN cũng là cơ sở để cụ thể hóa các hành vi đạo đức mà GV phải thực hiện, đồng thời là căn cứ để GV soi xét lại mình để có sự điều chỉnh và hoàn thiện ĐĐNN cho bản thân.
[30; 77; 97] Liên đoàn báo chí quốc tế IFJ (Internationnal Federation of Juornalists) đề ra những nguyên tắc ĐĐNN tại Đại hội các nghiệp đoàn Báo chí toàn thế giới lần thứ 2 tổ chức tại Bordeaux - Pháp vào tháng 4 năm 1954, và sau đó những nguyên tắc này được hiệu chỉnh tại Đại hội lần thứ 18 tổ chức vào tháng 5 năm 1986 tại Helsinki - Phần Lan. Bản tuyên bố quốc tế này được coi là những tiêu chuẩn ĐĐNN cho các nhà báo trong việc thu thập, lưu giữ, phổ biến, đánh giá tin tức và các nguồn tin trong việc miêu tả các sự kiện. [102] Tổ chức Quốc tế các hiệp hội thư viện (IFLA) ban hành bản quy tắc về ĐĐNN và được xem như các khuyến nghị về mặt đạo đức mang tính định hướng cho cán bộ thư viện - thông tin, và là cơ sở cho việc xây dựng các quy định về thư viện các nước. Gồm 6 yêu cầu: Tiếp cận thông tin; Trách nhiệm đối với mỗi người 10 dân và toàn xã hội; Sự riêng tư, tính bảo mật và sự công khai; Truy cập mở về sở hữu trí tuệ; Sự tập trung hội nhập của cá nhân và các kỹ năng chuyên môn; Mối quan hệ đồng nghiệp và mối quan hệ giữa chủ sở hữu lao động và người lao động.
[30, 119; 120] Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) đã giải mã được 5 tiêu chuẩn đạo đức chung cần phải có của tất cả các kế toán chuyên nghiệp: 1/ Đảm bảo tiêu chuẩn chuyên môn về nghề nghiệp; 2/ Giữ bí mật thông tin; 3/ Luôn làm việc khách quan; 4/ Giữ gìn thể diện nghề nghiệp; 5/ Chính trực và liêm khiết. [43, 77] Ở Việt Nam cũng có nhiều ngành nghề ban hành các nguyên tắc quy định về các tiêu chuẩn, chuẩn mực ĐĐNN, Cụ thể: Ngày 14/12/2007, Bộ Nội Vụ có công văn số 3613/BNV-TCPCP hướng dẫn ban hành quy tắc ĐĐNN cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp trong cả nước. [10] Quan điểm Y đức của Hồ Chí Minh là “Lương Y phải như từ mẫu”. Năm 2014, Bộ Y tế cũng đã ban hành quy tắc ứng xử của công chức viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế.
Qua đó cũng nêu rõ các quy định về ứng xử của công chức viên chức trong khi thi hành nhiệm vụ, ứng xử với đồng nghiệp, ứng xử đối với cơ quan tổ chức các nhân, ứng xử trong các cơ sở khám chữa bệnh, và ứng xử của lãnh đạo cán bộ quản lý y tế. [12] 11 ĐĐNN của nghề làm báo được quy định thành 10 điều về đạo đức báo chí Việt Nam, đó là những nguyên tắc, chuẩn mực để điều chỉnh hành vi của nhà báo trong hoạt động thực tiễn nghề nghiệp. [42] Đạo đức trong kinh doanh với câu khẩu hiệu “khách hàng là thượng đế” hay “vui lòng khách đến vừa lòng khách đi”. Đạo đức trong kinh doanh là vấn đề nền tảng của mọi giá trị, là phần không thể tách rời của mọi hoạt động, là kim chỉ nam, là yếu tố cơ bản tạo ra danh tiếng cho một công ty.
Tiêu chuẩn tiêu chí về ĐĐNN của cán bộ, công chức ngành tòa án nhân dân đã được thể chế hóa bằng các quy định về tiêu chuẩn Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án và 10 điều quy định về “Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân”. Các quy định đó đã và đang là những yêu cầu, thước đo về ĐĐNN cán bộ, công chức ngành tòa án phấn đấu, rèn luyện. [98] Ngành Văn hóa - thể thao và Du lịch cũng đã ban hành 10 Quy tắc ứng xử của cán bộ công chức viên chức trong ngành văn hóa, thể thao và du lịch. [11] ĐĐNN sư phạm ở Việt Nam có truyển thống lâu đời và rất được coi trọng.
Hồ Chí Minh luôn coi trọng và dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự trau dồi và rèn luyện của người làm công tác giáo dục. Người cho rằng tự trau dồi đạo đức là nguyên tắc để phát triển các phẩm chất đạo đức cách mạng. Không những chỉ ra cho các thầy cô giáo cách thức tu dưỡng rèn luyện đạo đức nhà giáo, Hồ Chí Minh còn chỉ ra trách nhiệm của trường sư phạm với vai trò là “máy cái” của ngành giáo dục, “Tất cả thầy trò, cán bộ, công nhân phải phấn khởi thi đua phát triển ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, làm thế nào để nhà trường này chẳng những là nhà trường sư phạm mà còn là trường mô phạm trong cả nước” [64; 66; 67; 68, 332; 70; 107; 110] Ngày 16/4/2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy định về đạo đức nhà giáo” [8]. Đây là cơ sở để nhà giáo thực hiện tốt nhiệm vụ và trách nhiệm cao cả của mình mà xã hội giao phó.
Trong một công trình nghiên cứu về giáo dục, tác giả Thái Duy Tuyên đã đưa ra nhận định: “Người thầy giáo quyết định chất lượng giáo dục, thậm chí không có thầy thì không có lớp, không có giáo dục” [107, 96], vì thế người thầy giáo cần phải có “đạo đức nghề nghiệp tốt”. Những phẩm chất cần thiết là phải yêu quý HS, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục của nhân dân, nghiêm khắc với bản thân, luôn luôn gương mẫu trong công việc và đời sống cá nhân [107, 112]. Đó là những chuẩn mực đạo đức rất cơ bản và hết sức cần thiết đối với nhà giáo. 12 Qua nghiên cứu nhận thấy hoạt động nghề nghiệp là phương thức sống chủ yếu nhất của con người và để sống, lao động có kết quả tốt nhất con người phải tuân thủ ĐĐNN.
Sự phát triển kinh tế xã hội ở bất kỳ thời đại nào cũng phụ thuộc vào phương thức sản xuất và ĐĐNN là chân lý thúc đẩy. Tuy nhiên để tự giác tuân thủ ĐĐNN trong học tập, lao động, sản xuất trước hết con người phải có nền tảng về đạo đức xã hội nói chung, tích cực chủ động, vận dụng chuẩn mực đạo đức vào mối quan hệ nghề nghiệp, nâng cao giá trị đạo đức và việc thực hiện, tuân thủ đạo đức sẽ gia tăng lợi ích kinh tế. Vì thế các nước trên thế giới và Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu và đưa ra những quy định về ĐĐNN trong từng lĩnh vực ngành nghề riêng biệt. Đó là những chuẩn mực yêu cầu, là thước đo về phẩm chất ĐĐNN để người hành nghề rèn luyện và phấn đấu.2 Các nghiên cứu về giáo dục đạo đức nghề nghiệp GDĐĐ nói chung và giáo dục ĐĐNN cũng là một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết để giúp con người hình thành được nhân cách hoàn chỉnh trong lĩnh vực lao động nghề nghiệp.
Khi luận giải về bản chất của phương pháp GDĐĐ tác giả Hà Thế Ngữ đã viết: “Dạy đạo đức là dạy những chuẩn mực, là làm cho người học nhận thức đúng đắn ý nghĩa xã hội và nội dung đạo đức của các chuẩn mực đó, làm cho họ chấp nhận những chuẩn mực đó như là những giá trị xã hội chân thật và tiến bộ, biến hệ thống chuẩn mực đó thành hệ thống định hướng giá trị về mặt đạo đức nhân cách bản thân, là làm cho người học thấm nhuần và quán triệt những chuẩn mực đó trong mọi hành vi của mình, trong cách đối xử hàng ngày, trong toàn bộ lối sống của mình” [73, 253]. Trong đoạn viết này, tác giả cũng đã chỉ ra nhân lõi của phương pháp GDĐĐ là phải chuyển hóa được những giá trị xã hội vào bên trong ý thức của người học, biến thành cái riêng của họ, do vậy, giáo dục giá trị chính là một bộ phận hữu cơ của quá trình GDĐĐ. Ở nhiều nước, giáo dục giá trị được gắn với GDĐĐ hoặc giáo dục công dân [30; 33; 34; 35; 51; 57]. Chẳng hạn, Scotland đã nhấn mạnh đến việc hình thành ở HS các giá trị của niềm tin cơ bản, các giá trị giao lưu.
Trong tài liệu: “Các giá trị mà chúng ta dạy” (1991) của bang New SouthWales đã chủ trương nâng cao chất lượng giáo dục các thái độ và hành vi với 3 loại giá trị: các giá trị của việc học tập, 13 các giá trị về bản thân và về người khác, các giá trị của tinh thần trách nhiệm công dân. [33, 7; 115] Mô hình GDĐĐ của Trung Quốc là giáo dục lý tưởng xã hội chủ nghĩa; Lòng tự cường dân tộc; tính kỷ luật trong lao động, học tập và hoạt động xã hội. Trung Quốc đặc biệt quan tâm tới giáo dục toàn diện gọi là “giáo dục tố chất”. Khi nói đến giáo dục tố chất, theo quan điểm của Trung Quốc, đó là tạo điều kiện tiền đề để HS phát triển cả về thể chất và tâm hồn.
Khiến cho tất cả HS đều được phát triển hết tiềm năng của mình từ đó thúc đẩy quá trình chuyển hóa ý thức xã hội bên trong phẩm chất tâm lý của cá thể HS.