PHẦN MỞ ĐẦU Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức cho SV thông qua hoạt động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ở trƣờng đại học. Chƣơng 2: Thực trạng giáo dục đạo đức cho SV thông qua hoạt động của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh ở trƣờng Cao đẳng Bến Tre hiện nay. Chƣơng 3: Biện pháp giáo dục đạo đức cho SV thông qua hoạt động của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh ở trƣờng Cao đẳng Bến Tre. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Cùng với sự ra đời của triết học và giáo dục, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đƣợc hình thành từ rất sớm bao gồm những nguyên lý, quy tắc chuẩn mực điều tiết hành vi của con ngƣời trong quan hệ với ngƣời khác và với cộng đồng. Việc truyền đạt kinh nghiệm sống từ thời sơ khai của xã hội loài ngƣời đã hàm chứa các nội dung của giáo dục đạo đức, nhƣ: kính trên nhƣờng dƣới, cách ăn, mặc, đi, đứng… Giáo dục đạo đức có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội loài ngƣời. Các quy tắc, chuẩn mực đạo đức vừa là yêu cầu, vừa là nhu cầu không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời.
Chính vì vậy, trong các nghiên cứu về giáo dục, các nhà khoa học giáo dục đặc biệt quan tâm đến giáo dục đạo đức. Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, từ phƣơng Đông đến phƣơng Tây, các nghiên cứu về giáo dục đạo đức đều nhằm hình thành cho con ngƣời những phẩm chất đạo đức phù hợp với chuẩn mực xã hội hiện tại. Ở phƣơng Đông, trong các tác phẩm của mình, Khổng Tử - nhà giáo dục nổi tiếng Trung Hoa cổ đại luôn coi trọng giáo dục luân lý đạo đức. Trong suốt cuộc đời làm thầy của mình, bên cạnh “dạy chữ”, bao giờ Khổng Tử cũng chú trọng vào “dạy người”, ông đề cao thuyết đức trị.
Khổng Tử nhấn mạnh con ngƣời phải có “Đức Nhân”. Theo Khổng Tử, gốc của nhân là hiếu đễ lễ nghĩa, trung thực vị tha, xã thân cứu ngƣời. Nội dung giáo dục đạo đức của Khổng Tử xoay quanh “Nhân – Trí – Dũng”. Trong tác phẩm “Luận ngữ” ông chủ trƣơng rèn luyện tính thiện cho dân bằng phƣơng pháp “cất nhắc người tốt, dạy dỗ người không tốt thì dân khuyên nhau làm điều thiện”.
Về sau, Mạnh Tử kế thừa và sáng tạo tƣ tƣởng đạo đức nói về 6 “Nhân” qua học thuyết Tính Thiện với câu nói nổi tiếng “Nhân chi sơ tính bổn thiện”. Mạnh Tử chủ trƣơng cần phải có sự tu dƣỡng, rèn luyện, giáo dục cho mọi ngƣời, nhất là với các bậc vua chúa, bậc quân tử. Từ đó, Mạnh Tử đề ra các tiêu chí “tu thân”: “Nhân – Lễ - Nghĩa – Trí”. Đến đời Hán, nho gia Đổng Trọng Thƣ thêm đức Tín trở thành ngũ thƣờng của Nho gia: Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí – Tín và trở thành tiêu chuẩn giáo dục đạo đức của các nƣớc Phƣơng Đông.
[35] Ở Phƣơng Tây, giáo dục đạo đức cũng là một nội dung quan trọng hàng đầu trong các nghiên cứu của các nhà khoa học giáo dục, trong đó tiêu biểu là nhà giáo dục nổi tiếng ngƣời Sec – “Ông tổ của nền sư phạm cận đại” J. Trong tất cả các nghiên cứu của mình, ông đặc biệt quan tâm đến đức dục. Comenxki nhấn mạnh các phẩm chất cần giáo dục cho học sinh là: sự sáng suốt, sự khôn ngoan, tính ôn hòa, lòng dũng cảm và tính công bằng; trong đó ông đặc biệt chú ý tới những biểu hiện cụ thể của lòng dũng cảm và tính công bằng. Ông cho rằng giáo dục cho các em làm điều có lợi cho mình đồng thời tránh hại cho ngƣời khác; biết tránh những điều bất công, độc ác; biết làm điều thiện, yêu thƣơng và giúp đỡ mọi ngƣời… Trong giáo dục đạo đức, Comenxki luôn chú ý gắn lý thuyết với thực tiễn, theo Comenxki, đức hạnh con ngƣời cuối cùng phải thể hiện ở hành vi giao tiếp, đó là việc xử sự giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa cá nhân với cộng đồng trong lời ăn, tiếng nói, cách chào hỏi, đi đứng, biểu hiện thái độ [38]…Các tác phẩm với nội dung giáo dục nổi tiếng của Comenxki nhƣ: “Trường học lòng mẹ”, tác phẩm chuyên nghiên cứu về giáo dục trẻ mẫu giáo; tác phẩm “Loan báo về một nhà trường mẫu giáo”…, đều khẳng định vai trò giáo dục trong việc hình thành các phẩm chất đạo đức cho trẻ ngay từ bậc học đầu tiên.
Theo ông, trẻ em bị nhiễm thói xấu ban đầu thì sau này sửa lại rất khó, ông ví “sáp mềm thì bóp, nặn dễ dàng; cứng rồi thì làm mạnh sẽ gãy” [36] .Chính vì vậy, những bài học giáo dục đạo đức của Comenxki vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. John Locke (1632-1704), nhà Triết học và giáo dục học Anh thế kỷ 18 cho rằng giáo dục đạo đức là một vấn đề quan trọng nhất. Theo ông, trí dục tuy quan trọng, nhƣng không quan trọng bằng đức dục: “.còn nếu mà không rèn luyện đƣợc đức tính, để tránh những thói hƣ, tật xấu, thì những môn ngôn ngữ hay khoa học 7 hay bằng cấp nọ kia cũng chẳng ích gì, vì nó có thể tạo nên một con ngƣời xấu xa hay nguy hiểm hơn cho xã hội. Makarenko, nhà giáo dục nổi tiếng của Xô Viết với tác phẩm “Bài ca sư phạm” đã đƣa ra nguyên tắc giáo dục “Cần phải đào tạo con người theo cách mới”, bằng cách khơi dậy - thức tỉnh - động viên - ủng hộ những mầm mống của nhân phẩm chân chính, tốt đẹp.
Ông quan tâm giáo dục đạo đức là giáo dục nề nếp, kỷ luật tự giác, chủ nghĩa tập thể. Theo ông, mục đích của quá trình giáo dục là giáo dục hành vi, phẩm chất của con ngƣời có tinh thần trung thực, ý chí dũng cảm … phải giáo dục tình cảm, nghĩa vụ và khái niệm danh dự…. phải có phẩm giá của mình, phải là con ngƣời lịch thiệp và nghiêm khắc, tốt bụng và nhân tâm, tùy theo những điều kiện của cuộc sống. Ông đề ra nguyên tắc giáo dục căn bản là sự kết hợp giữa lòng tôn trọng giá trị con ngƣời với yêu cầu cao con ngƣời.
Những nội dung và phƣơng pháp giáo dục đạo đức của Makarenko đƣợc các nƣớc trong hệ thống xã hội chủ nghĩa vận dụng thành công, trong đó có Việt Nam. [25] Giáo dục đạo đức là nội dung đƣợc tất cả các nền giáo dục trên thế giới xác định có vai trò quan trọng trong phát triển nhân cách thế hệ trẻ. Tại Nhật Bản, giáo dục đạo đức đóng vai trò quan trọng và là giá trị cốt lõi của giáo dục Nhật Bản, trong đó đề cao tuyệt đối tính kỷ luật và tinh thần tự lập. Mục đích GDĐĐ của Nhật bản là nhằm bảo tồn giá trị xã hội để truyền chúng lại cho thế hệ sau, đƣợc thực hiện bằng sáu mục tiêu và ba trọng điểm.
Sáu mục tiêu đƣợc xem là triết lý của giáo dục Đạo đức ở Nhật Bản, ghi trong khung chƣơng trình quốc gia nhằm đào luyện con ngƣời có: - Tinh thần tôn trọng nhân phẩm và lòng yêu quý cuộc sống. - Tinh thần kế thừa và phát triển văn hóa truyền thống và sáng tạo văn hóa giàu tính cá nhân. - Tinh thần nỗ lực hình thành và phát triển một xã hội và đất nƣớc dân chủ. - Có đóng góp cho sự phát triển một thế giới hòa bình.
- Có thể tự quyết định một cách độc lập. - Có ý thức đạo đức: Kỷ luật, tự kiềm chế, tinh thần tập thể. 8 Ba trọng điểm: Lòng tôn trọng cuộc sống- Quan hệ cá nhân và cộng đồng- Ý thức về trật tự dọc (Kỷ luật xã hội). Ý thức về trật tự dọc là tôn ti xã hội nghiêm ngặt và là yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững về kinh tế- xã hội của quốc gia Nhật Bản.
[37] Giáo dục đạo đức ở Mỹ với mục tiêu cung cấp cho HS những kiến thức và cơ hội thực hành, vận dụng để xây dựng đƣợc một nền tảng tính cách bền vững, hài hòa dựa trên ba mục tiêu lớn của cuộc đời; giáo dục HS trở thành những công dân có trách nhiệm, hiểu biết và có thể tham gia hiệu quả vào đời sống chính trị, xã hội của đất nƣớc. Nội dung giáo dục đạo đức dựa trên 6 trụ cột, đó là: sự tin cậy; tôn trọng; tinh thần trách nhiệm; công bằng; quan tâm và bổn phận công dân. Budziszewski, trong tác phẩm What we can’t know,rev. (Ignatius Press, 2011) cho rằng giáo dục đạo đức phục vụ ít nhất năm mục đích, đó là: 1.
Củng cố những gì chúng ta biết (Reinforces what we know) 2. Gợi lên những gì chúng ta biết (elicits what we know) 3. Bảo vệ những gì chúng ta biết (guards what we know) 4. Đƣợc xây dựng trên những gì chúng ta biết (builds upon what we know) 5.
Đối mặt với chúng ta về những gì chúng ta biết (confronts us about what we know) Trong bài viết Giáo dục đạo đức – điều cần thiết trong hệ thống giáo dục (moral education – a nessity in the education system), tác giả Prathiksha Prakash đăng trên website iUmag ngày 12/5/2015 cho rằng : Mấu chốt quan trọng nhất của hệ thống giáo dục là đạo đức, và điều quan trọng là đảm bảo rằng trẻ em nhận thức đƣợc đạo đức và chắc chắn sẽ khác sâu trong cuộc sống của chúng. Chỉ nhƣ vậy thì mục đích giáo dục mới hoàn thành [34]. Ở Việt Nam Bàn về đạo đức và giáo dục đạo đức ở nƣớc ta có rất nhiều hình thức đa dạng phong phú và đƣợc đề cập từ rất sớm qua các câu ca dao, tục ngữ, truyện cô tích đến các công trình nghiên cứu của các danh nhân, nhà khoa học, trong đó vấn đề đạo đức đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn đến rất nhiều và đã trở thành hình mẫu tiêu chuẩn về giá trị đạo đức ở nƣớc ta. 9 Các giá trị đạo đức truyền thống của ngƣời Việt Nam đƣợc thể hiện qua các câu ca dao, tục ngữ nhƣ: “Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách”, “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Kính già yêu trẻ”; qua các câu chuyện cổ tích nhƣ: Thạch Sanh Lý Thông, Tấm Cám, Ăn khế trả vàng… đƣợc truyền lại và vận dụng trong giáo dục đạo đức cho đến ngày nay.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến đạo đức và rèn luyện đạo đức.