Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục dân số thông qua hoạt động trải nghiệm 1. Lí luận chung về Giáo dục dân số 1. Khái niệm Giáo dục dân số Giáo dục dân số (Population education) là một lĩnh vực mới xuất hiện gần đây. Mục tiêu chính của nó là nhằm tác động vào nhận thức của con người, để từ đó giúp họ có ý thức trong việc lựa chọn các các quyết định có liên quan đến vấn đề dân số.
Từ những năm 70 của Thế kỉ XX, GDDS được hồi sinh và phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Á - Thái Bình Dương cũng như nhiều khu vực khác trên Thế giới. Mới đây nhất, tổ chức UNESCO đã đưa ra khái niệm về GDDS như sau: “GDDS chỉ một chương trình giáo dục giúp người học hiểu được mối quan hệ qua lại giữa động lực dân số và các nhân tố khác của chất lượng cuộc sống. Từ đó, người học có được những quyết định hợp lí, có trách nhiệm và những hành vi đúng đắn về các lĩnh vực dân số, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân, gia đình, quốc gia, cộng đồng”. GDDS được hiểu là một quá trình giáo dục, vì vậy nó bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học, có nội dung và chương trình, có phương pháp, hình thức và phương tiện dạy học tương ứng.
Quá trình GDDS bao gồm các bước có liên quan chặt chẽ với nhau theo một trình tự logic. Cung cấp các Suy xét và Quyết định Hành động kiến thức và đánh giá hiện thái độ theo quyết hiểu các kiến tượng định đó thức đó Sơ đồ 1: Quá trình giáo dục dân số 10 skkn Các bước của quá trình giáo dục dân số thuộc về các lĩnh vực: nhận thức, thái độ và hành vi. Mỗi lĩnh vực bao gồm các nội dung cụ thể, bước trước là tiền đề cho bước sau. Nhận thức – thái độ - hành vi là một quá trình rất phức tạp, phụ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của từng chủ thể.
Do đó, trong quá trình dạy học, giáo viên cần chú trọng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, khuyến khích sự tìm tòi, suy nghĩ, uốn nắn những nhận thức chưa đúng đắn, chưa phù hợp, giúp học sinh tự lĩnh hội được tri thức, tự giác có thái độ và quyết tâm thực hiện những hành vi đúng đắn đối với các vấn đề dân số. Mục tiêu của giáo dục dân số Mục tiêu cuối cùng của GDDS là góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân người học, gia đình và xã hội. Nhằm thực hiện được mục tiêu đó, GDDS trong nhà trường phổ thông cần phải đạt được những mục tiêu cơ bản sau: - Giúp nâng cao nhận thức cho người học về: tình hình dân số cả về số lượng lẫn chất lượng, các quá trình biến đổi dân số, các yếu tố quyết định sự ổn định dân số cũng như chất lượng dân số, mối quan hệ giữa dân số, phát triển và chất lượng cuộc sống. Nâng cao sự hiểu biết của người học về tầm quan trọng của những điều kiện thiết yếu cho sự ổn định dân số vì một chất lượng dân số tốt hơn trong hiện tại và tương lai.
- Phát triển các năng lực đánh giá giúp người học có khả năng đánh giá mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng cuộc sống với sự biến đổi dân số và sự tiêu thụ các nguồn tài nguyên hiện tại, tương lai đối với bản thân, gia đình, cộng đồng, quốc gia và thế giới, từ đó có thái độ ủng hộ các chính sách dân số quốc gia. - Giúp người học có kĩ năng hợp lí và hành vi có trách nhiệm và giúp người học có khả năng ra những quyết định chính xác trước những vấn đề dân số. - Nhận thức - Quy mô gia đình hợp lí - Thái độ đúng - Phát triển dân số hợp lí - Hành vi thích hợp - Phân bố dân cư hợp lí 11 skkn Sơ đồ 2: Mục tiêu cơ bản của Giáo dục dân số Như vậy, mục tiêu của GDDS nói chung nhằm vào cả 2 cấp độ vi mô (cá nhân, gia đình) và vĩ mô (cộng đồng, quốc gia, thế giới) ở cả ba mức: nhận thức – thái độ - hành vi. Đó cũng chính là mục tiêu mà việc tổ chức GDDS trong nhà trường phổ thông cần đạt tới.
Tính hợp lí của giáo dục dân số đối với học sinh trong nhà trường hiện nay Ở Việt Nam, GDDS ngày càng giữ vai trò quan trọng. Từ năm 1997, GDDS đã chính thức được đưa vào chương trình giáo dục đã chứng tỏ sự cần thiết của môn học này đối với người học. Và điều đó cũng đồng nghĩa đã khẳng định rằng trường học là môi trường tốt nhất để GDDS. - Nhà trường là môi trường thuận lợi nhất để GDDS do tính liên ngành của môn học.
Nội dung GDDS có thể lồng ghép (tích hợp) vào nhiều môn học có liên quan trong chương trình giáo dục chính quy và không chính quy. Các môn học ở trường phổ thông hiện nay thuận lợi trong việc lồng ghép nội dung GDDS là Sinh học, Địa lí, Giáo dục công dân, Lịch sử, Văn học, Toán học… - Đây là môi trường thuận lợi nhất để GDDS vì ngoài việc tích hợp, lồng ghép vào các môn học, các hoạt động, nhà trường có đội ngũ giáo viên, phương pháp và hình thức dạy học phù hợp nhất để giáo dục các em. Ở trường, ngoài thầy cô giáo còn có các tổ chức khác như Hội phụ huynh học sinh, Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên… cùng phối hợp thực hiện giảng dạy các em. - Các em HS chủ yếu đang trong lứa tuổi vị thành niên.
Lứa tuổi này chiếm từ 20 - 30% tổng dân số. Đây là lực lượng chính duy trì sự phát triển của đất nước trong tương lai, là nhóm tuổi chuẩn bị bước vào lứa tuổi sinh sản trong tương lai gần và đang ngồi trên ghế nhà trường ở các cấp học. Do đó việc GDDS là việc làm hết sức có ý nghĩa đối với các em. Từ những điều trên cho thấy nhà trường là môi trường tốt nhất để tiến hành tổ chức các hoạt động GDDS.
Lí luận về hoạt động trải nghiệm 1. Quan niệm về hoạt động trải nghiệm Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục trong đó từng HS được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, các kĩ năng và tích lũy kinh nghiệm riêng như phát huy tiềm năng sáng tạo cá nhân mình. Trong dạy học ở phổ thông hiện nay, cụm từ HĐTN được nhắc đến khá nhiều. Đây là các hoạt động giáo dục thực tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông.
HĐTN là một hoạt động quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới; là hoạt động giúp HS vận dụng những tri thức, kĩ năng, thái độ đã học từ nhà trường và những kinh nghiệm của bản thân vào trong thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo. Bên cạnh việc hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực chung của chương trình giáo dục, HĐTN còn tập trung hình thành, phát triển các năng lực đặc thù cho HS: Năng lực tổ chức hoạt động, năng lực tổ chức và quản lí cuộc sống, năng lực tự nhận thức và tích cực hoá bản thân, năng lực định hướng và lựa chọn nghề nghiệp. Đây là cơ sở để giúp HS hình thành những phẩm chất và phát triển năng lực cá nhân. Với cách hiểu về HĐTN như trên, có thể thấy bất kỳ môn học, lĩnh vực nào cũng có thể xây dựng nội dung trải nghiệm.
Nội dung trải nghiệm rất đa dạng, mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập, giáo dục như: đạo đức, trí tuệ, kỹ năng sống, giá trị sống, nghệ thuật, thẩm mỹ, thể chất, an toàn giao thông, môi trường. Giáo viên có thể lựa chọn những vấn đề thiết thực, gần gũi với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của HS, giúp các em vận dụng hiểu biết vào thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi. Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm Đặc điểm nổi bật của HĐTN là HS được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn, kết hợp với kiến thức đã học, dưới sự hướng dẫn, tổ chức của GV để nâng cao kiến thức, hình thành phẩm chất và phát triển năng lực. Một trong 13 skkn những nguyên tắc của việc tổ chức HĐTN đó là gắn với các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương nhằm “trang bị cho HS những hiểu biết về nơi sống, bồi dưỡng cho HS tình yêu quê hương, ý thức tìm hiểu và vận dụng những kiến thức đã học để góp phần giải quyết những vấn đề của địa phương”.
HĐTN là hoạt động giáo dục theo chủ đề; được thiết kế, tổ chức, thực hiện theo hướng tích hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực, môn học thành các chủ điểm mang tính chất mở, hình thức và phương pháp tổ chức đa dạng, giúp HS có nhiều cơ hội tự trải nghiệm và phát huy khả năng sáng tạo của bản thân. HĐTN có một số đặc điểm chính sau: - Về mục tiêu: HĐTN hướng đến việc hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, kĩ năng sống và những năng lực chung cần có trong xã hội hiện đại. Trong đó, chú trọng tới việc vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, gắn với môi trường văn hóa, kinh tế, xã hội của địa phương để góp phần giáo dục giá trị văn hóa truyền thống địa phương cho HS. - Về nội dung: gắn kiến thức trong nhà trường với thực tiễn địa phương, tổng hợp nhiều lĩnh vực giáo dục, môn học.
Những nội dung này được thiết kế thành các chủ đề giáo dục mang tính mở, không yêu cầu mối liên hệ chặt chẽ giữa các chủ đề. - Về hình thức tổ chức: HĐTN có sự đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng. Có thể được tổ chức trong và ngoài lớp học, trong và ngoài nhà trường, thông qua các hoạt động thực tế như: tham quan, cắm trại, tham gia trò chơi, trải nghiệm thực tế,. HS có cơ hội được trải nghiệm; nhiều lực lượng cùng tham gia chỉ đạo, tổ chức trải nghiệm với các mức độ khác nhau (GV, các chuyên gia, phụ huynh, các doanh nghiệp,.
Tương tác trong HĐTN là đa chiều. HĐTN là một trong những hoạt động được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông mới.