Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, giao dịch dân sự giữ vai trò là phương tiện pháp lý quan trọng trong việc dịch chuyển tài sản, cung ứng dịch vụ và thiết lập các quan hệ xã hội. Nhằm tạo lập hành lang pháp lý an toàn và ổn định cho các quan hệ tài sản, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã quy định chi tiết về việc xác lập, thực hiện và các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy chế định giao dịch dân sự vô hiệu vẫn tồn tại nhiều vướng mắc, quy định còn cứng nhắc, chưa đầy đủ và phát sinh sự chồng chéo trong cách giải thích pháp luật.

Thực tế xét xử ghi nhận không ít trường hợp các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng đã lợi dụng kẽ hở pháp lý để bội ước, trốn tránh nghĩa vụ hoặc che giấu các giao dịch đích thực. Trong các dạng giao dịch vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể, giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là loại hình phức tạp, thường xuyên phát sinh tranh chấp gay gắt và gây nhiều lúng túng cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thu thập chứng cứ, định danh giao dịch và xác định hậu quả pháp lý.

Khóa luận xác định mục tiêu và hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích, làm rõ quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo trên cơ sở lý luận và thực tiễn xét xử; từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế để đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng.

  • Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu:

    1. Nghiên cứu, hệ thống hóa một số nội dung lý luận cơ bản về giao dịch dân sự, giao dịch dân sự vô hiệu và giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo.
    2. Phân tích các vấn đề pháp lý thực định điều chỉnh giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo theo quy định của BLDS năm 2015.
    3. Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật thông qua các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp cụ thể tại Tòa án.
    4. Đánh giá tổng quan những vướng mắc phát sinh và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật cùng hoạt động thực thi.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, cơ sở lý luận về ý chí chủ thể trong giao dịch dân sự, cùng các tranh chấp thực tế liên quan đến giao dịch giả cách.
    • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung chủ yếu vào các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, đối chiếu và so sánh với Bộ luật Dân sự năm 2005 cùng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan; phạm vi thực tiễn giới hạn ở các giao dịch dân sự được xác định vô hiệu do giả tạo trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên học thuyết về tự do ý chí và sự bày tỏ ý chí trong khoa học pháp lý dân sự, nguyên tắc thiện chí, trung thực và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tác giả sử dụng làm căn cứ phân tích bao gồm:

  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (trọng tâm là Điều 117, 122, 124, 131, 132, 398, 407).
  • Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 129).
  • Luật Đất đai năm 1987 (Điều 5) và Luật Đất đai năm 1993 (về điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua các thời kỳ lịch sử).

Bên cạnh đó, tác giả kế thừa và phân tích các quan điểm khoa học từ các công trình nghiên cứu trước đây như giáo trình Luật Dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Cao đẳng Kiểm sát; sách Bình luận BLDS của Bộ Tư pháp; bài viết của TS. Bùi Đăng Hiếu (về vô hiệu tương đối và vô hiệu tuyệt đối); nghiên cứu của ThS. Lê Thị Bích Thọ (về yếu tố lừa dối); luận văn của ThS. Nguyễn Thị Thanh (2011), Luận án Tiến sĩ của TS. Nguyễn Văn Cường (2005), Luận văn Thạc sĩ của ThS. Bùi Thị Thu Huyền (2010), và ThS. Nguyễn Thị Nhàn (2008).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai trong khóa luận bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu giáo trình, tài liệu chuyên khảo, công trình khoa học pháp lý nhằm làm sáng tỏ khái niệm, bản chất pháp lý của ý chí, sự tự nguyện và giao dịch giả tạo.
  • Phương pháp phân tích luật viết: Nghiên cứu trực tiếp câu chữ, cấu trúc và nội dung của các quy phạm pháp luật trong BLDS năm 2015 và các văn bản liên quan.
  • Phương pháp so sánh, tổng hợp: Đối chiếu quy định của BLDS năm 2015 với BLDS năm 2005 để tìm ra các điểm mới, điểm kế thừa và những khoảng trống pháp lý.
  • Phương pháp sưu tầm, phân tích số liệu và án văn thực tế: Thu thập dữ liệu từ các bản án dân sự sơ thẩm, phúc thẩm của Tòa án nhân dân các cấp (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Tây Ninh, Hưng Yên) và các văn bản kháng nghị của Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân cấp cao.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng cấu thành chế định giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo:

  • Khái niệm và đặc điểm của giao dịch dân sự: Giao dịch dân sự bao gồm hợp đồng dân sự và hành vi pháp lý đơn phương. Để một giao dịch có hiệu lực pháp luật, cần đáp ứng 5 điều kiện cơ bản: (1) Thể hiện ý chí đích thực của các bên dựa trên nguyên tắc tự do ý chí và thiện chí; (2) Người tham gia có năng lực hành vi dân sự phù hợp; (3) Mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; (4) Người tham gia hoàn toàn tự nguyện; (5) Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật.
  • Khái niệm và đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu: Giao dịch vô hiệu là giao dịch vi phạm ít nhất một trong các điều kiện có hiệu lực do luật định, dẫn tới hệ quả không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự theo mong muốn ban đầu của các bên.
  • Khái niệm và đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo: Giả tạo là hành vi cố ý thể hiện ra bên ngoài khác với ý chí nội tâm. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo mang các đặc trưng cốt lõi:
    • Bản chất là giao dịch mang tính hình thức, nội dung xác lập không phản ánh đúng ý chí đích thực của các bên.
    • Có sự thông đồng, thống nhất giữa các bên nhằm tạo ra nhận thức sai lầm cho chủ thể khác hoặc che giấu một hành vi bất hợp pháp.
    • Lợi ích mà các bên hướng tới khi xác lập giao dịch không phù hợp với quy định của pháp luật (nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba).

Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Chương 2 tập trung phân tích nội dung thực định tại Điều 124 và các điều khoản liên quan trong BLDS năm 2015:

  • Hai trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo theo Điều 124 BLDS 2015:
    1. Giao dịch xác lập nhằm che giấu một giao dịch khác (Khoản 1): Giao dịch giả tạo (bộc lộ ra bên ngoài) luôn luôn bị vô hiệu; giao dịch bị che giấu (giao dịch đích thực) vẫn có hiệu lực pháp luật nếu đáp ứng đủ các điều kiện luật định. Điều kiện để áp dụng quy định này gồm: có sự thống nhất ý chí giữa các bên về hành vi giả tạo và có sự bất nhất giữa tuyên bố ý chí bên ngoài với mong muốn thực chất bên trong. Tác giả nêu bật thực trạng phổ biến trong xã hội: các bên vay tiền nhưng lại ký hợp đồng mua bán/chuyển nhượng nhà đất với giá thấp để làm tin, sau đó phát sinh tranh chấp đòi nhà đất.
    2. Giao dịch xác lập nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba (Khoản 2): Giao dịch này vô hiệu toàn bộ. Mục đích trốn tránh nghĩa vụ thường hướng tới hai nhóm đối tượng: trốn tránh nghĩa vụ trả nợ đối với chủ nợ (tẩu tán tài sản cho người thân) hoặc trốn tránh nghĩa vụ tài chính với Nhà nước (ký hợp đồng tặng cho thay cho mua bán nhà đất, hoặc kê khai giá chuyển nhượng trong hợp đồng công chứng thấp hơn nhiều so với giá trị giao dịch thực tế để giảm thuế).
  • Hậu quả pháp lý và thời hiệu khởi kiện:
    • Hậu quả pháp lý (Điều 131 BLDS 2015): Giao dịch không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ từ thời điểm xác lập; các bên khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận bằng hiện vật hoặc bằng tiền; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.
    • Thời hiệu khởi kiện: Theo quy định của BLDS năm 2015, đối với giao dịch vô hiệu do giả tạo, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu không bị giới hạn 02 năm như các trường hợp vô hiệu tương đối khác (nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, người chưa thành niên, vi phạm hình thức).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Chương 3 chỉ ra các khoảng trống pháp lý, đánh giá các bản án thực tế và đề xuất hoàn thiện:

  • Những bất cập trong quy định hiện hành:
    • Điều 124 BLDS 2015 chưa định nghĩa cụ thể thuật ngữ "giả tạo", gây ra các cách hiểu không thống nhất trong áp dụng.
    • Hậu quả pháp lý khi khôi phục tình trạng ban đầu đối với bất động sản gây bất công cho bên nhận chuyển nhượng khi giá đất gia tăng nhanh chóng; chưa có cơ chế giải quyết việc bên nhận tài sản làm tăng giá trị (cải tạo, xây dựng) hoặc làm giảm giá trị tài sản; thiếu quy định rõ ràng về thời điểm xác định giá để hoàn trả bằng tiền.
    • Thiếu quy định cụ thể về việc xác định yếu tố "trượt giá" của tài sản có được xem là thiệt hại thực tế để bồi thường hay không.
    • Chưa có chế tài pháp lý nghiêm khắc ngoài việc tuyên vô hiệu đối với các chủ thể cố tình xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn thuế hoặc tẩu tán tài sản.
  • Tổng hợp các vụ án điển hình được phân tích trong khóa luận:
Bản án / Vụ việc Quan hệ tranh chấp Dấu hiệu giả tạo được Tòa án xác định Quyết định của Tòa án
Bản án 69/2021/DS-PT (08/03/2021, TAND TP.HCM) Tranh chấp HĐ chuyển nhượng QSDĐ và HĐ vay tài sản HĐ chuyển nhượng 1.254,9m2 đất tại huyện Bình Chánh lập ra chỉ để đảm bảo cho khoản vay 100 triệu đồng (lãi suất 3%/tháng). Tuyên HĐ chuyển nhượng vô hiệu do giả tạo; buộc trả lại tiền vay và giấy tờ đất.
Bản án 214/2020/DS-PT (23/06/2020, TAND TP. Hà Nội) Yêu cầu hủy HĐ chuyển nhượng QSDĐ tại quận Ba Đình Vay 1 tỷ đồng nhưng lập HĐ đặt cọc 4 tỷ đồng và HĐ chuyển nhượng nhà đất số 873 Đội Cấn để che giấu quan hệ vay nợ. Giữ nguyên án sơ thẩm: Hủy HĐ chuyển nhượng công chứng do vô hiệu toàn bộ.
Bản án 140/2019/DS-PT (28/02/2019, TAND TP.HCM) Tranh chấp HĐ cho mượn nhà, HĐ cho thuê nhà tại Quận 1 Ký "Hợp đồng mượn nhà" thời hạn 10 năm tại số 173B đường BC nhằm che giấu hợp đồng thuê nhà thực tế giá 6 triệu đồng/tháng. Tuyên Hợp đồng mượn nhà công chứng vô hiệu do giả tạo.
Bản án 70/2020/DS-ST (27/10/2020, TAND H. Gò Dầu) Tranh chấp HĐ vay tài sản, nợ hụi và HĐ chuyển nhượng QSDĐ Chuyển nhượng 1.247m2 đất giá thực 1 tỷ đồng nhưng ghi hợp đồng 200 triệu đồng, nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh trả nợ hụi 129 triệu đồng. Tuyên HĐ chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu do giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ.
Bản án 90/2019/DS-PT (02/04/2019, TAND T. Tiền Giang) Tranh chấp HĐ chuyển nhượng quyền sử dụng đất Vay 2 tỷ đồng lập 4 hợp đồng giả cách chuyển nhượng 12 thửa đất tại huyện Tân Phước; bên cho vay tự ý sang tên rồi bán cho người khác. Hủy 4 hợp đồng chuyển nhượng đất và hủy các biến động sang tên do hợp đồng giả cách.
03 vụ án bị TANDCC tại Hà Nội kháng nghị Tranh chấp kiện đòi nhà đất phát sinh từ quan hệ vay nợ Vay nợ lãi cao bị ép ký HĐ chuyển nhượng/ủy quyền nhà đất; Tòa sơ thẩm và phúc thẩm công nhận việc đòi nhà, bỏ qua bản chất vay mượn. Ủy ban Thẩm phán TAND Cấp cao chấp nhận kháng nghị, hủy án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử lại.
  • Kiến nghị hoàn thiện:
    • Về mặt lập pháp: Xây dựng văn bản hướng dẫn giải thích cụ thể thuật ngữ "giả tạo"; bổ sung quy định cụ thể về thời điểm tính giá trị tài sản hoàn trả bằng tiền và cơ chế giải quyết phần giá trị tài sản tăng/giảm do quá trình sử dụng; bổ sung chế tài xử phạt kinh tế đối với hành vi giả tạo trốn thuế.
    • Về thực tiễn áp dụng: Tăng cường kỹ năng nghiệp vụ của Thẩm phán trong việc điều tra, thu thập chứng cứ gián tiếp (giấy biên nhận nợ, bảng kê trả lãi, quan hệ nhân thân, sự chênh lệch giữa giá thỏa thuận và giá ghi trên hợp đồng) để phân định chính xác hợp đồng giả tạo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả chính: Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, phân định rành mạch 02 trường hợp giả tạo theo Điều 124 BLDS năm 2015. Công trình cung cấp bức tranh thực tiễn chi tiết thông qua việc mổ xẻ 05 bản án phúc thẩm/sơ thẩm và 03 vụ án bị Tòa án nhân dân cấp cao kháng nghị giám đốc thẩm, chỉ ra nguyên nhân dẫn tới các phán quyết sai lệch ở cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm.
  • Giải pháp đề xuất: Đề xuất 2 nhóm giải pháp đồng bộ: (1) Kiến nghị sửa đổi, hướng dẫn cụ thể các quy định của Bộ luật Dân sự về định nghĩa giả tạo, thời điểm định giá tài sản hoàn trả và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại; (2) Kiến nghị nâng cao năng lực tố tụng và kỹ năng đánh giá chứng cứ của cơ quan xét xử.
  • Đóng góp khoa học: Khác với các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận giao dịch vô hiệu do giả tạo một cách khái quát hoặc lồng ghép chung trong các dạng vi phạm ý chí (như nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa), khóa luận của tác giả Vũ Đăng Hùng đi sâu nghiên cứu độc lập, chuyên biệt về giao dịch giả tạo gắn liền với các dạng tranh chấp thực tế điển hình dưới góc độ quy định của BLDS năm 2015.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các tranh chấp dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất, nhà ở và quan hệ vay nợ cá nhân; chưa mở rộng khảo sát sâu các dạng giao dịch giả tạo phức tạp trong hoạt động doanh nghiệp, chứng khoán, bảo hiểm hay thương mại điện tử.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các giao dịch giả tạo có yếu tố nước ngoài, các thỏa thuận tài chính doanh nghiệp tinh vi nhằm trốn tránh nghĩa vụ pháp lý, và nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp quốc tế trong việc kiểm soát hợp đồng giả cách.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích đối với:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự tham khảo về phương pháp luận và kỹ thuật phân tích án văn liên quan đến giao dịch vô hiệu.
  • Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư và Công chứng viên tham khảo các dấu hiệu nhận biết giao dịch giả cách (đặc biệt là biến tướng vay tài sản thành hợp đồng mua bán, tặng cho nhà đất) phục vụ hoạt động hành nghề và giải quyết tranh chấp.
  • Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 và Chương 3, nơi phân tích thực trạng tranh chấp vay nợ trá hình bằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các bất cập tại Điều 131 BLDS 2015.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015, hiệu lực của giao dịch giả tạo và giao dịch bị che giấu được xử lý như thế nào?
Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo luôn luôn vô hiệu. Trong khi đó, giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp giao dịch đó cũng bị vô hiệu theo quy định của BLDS năm 2015 hoặc các luật khác có liên quan.

2. Dấu hiệu nhận biết điển hình của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tiền là gì?
Các dấu hiệu thực tiễn bao gồm: giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng thấp hơn nhiều so với giá trị thị trường thực tế; bên bán không bàn giao tài sản/nhà đất trên thực tế; tồn tại các văn bản thỏa thuận cho chuộc lại tài sản hoặc giấy biên nhận thể hiện việc trả lãi suất hàng tháng; bên mua thực chất là bên cho vay và sử dụng hợp đồng chuyển nhượng làm công cụ gây áp lực siết nợ.

3. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo có bị khống chế trong thời hạn 02 năm không?
Không. Theo quy định của BLDS năm 2015, thời hiệu 02 năm chỉ áp dụng đối với các trường hợp giao dịch vô hiệu do người chưa thành niên/mất năng lực hành vi, do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, không nhận thức làm chủ hành vi hoặc vi phạm hình thức. Giao dịch vô hiệu do giả tạo không bị giới hạn bởi thời hiệu yêu cầu tuyên bố vô hiệu này.

4. Bất cập lớn nhất khi giải quyết hậu quả pháp lý tại Điều 131 BLDS năm 2015 đối với hợp đồng chuyển nhượng nhà đất bị vô hiệu là gì?
Bất cập lớn nhất là quy định buộc các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận gây tổn thất nặng nề cho bên nhận chuyển nhượng khi giá trị quyền sử dụng đất tăng vọt qua thời gian; đồng thời pháp luật hiện hành còn thiếu quy định xác định thời điểm định giá tài sản khi hoàn trả bằng tiền và chưa làm rõ liệu trượt giá tài sản có được tính là thiệt hại thực tế để yêu cầu bồi thường hay không.

5. Trong Bản án số 69/2021/DS-PT, Tòa án đã dựa vào chứng cứ nào để tuyên hợp đồng chuyển nhượng đất là giả tạo?
Tòa án căn cứ vào "Giấy xác nhận vay tiền và cam kết trả nợ" ký ngày 18/7/2012 giữa ông C và bà X với số tiền vay 100 triệu đồng (lãi suất 3%/tháng), giấy biên nhận trả lãi ngày 18/8/2012, biên bản hòa giải tại UBND xã ngày 24/8/2012 nơi bà X thừa nhận việc thế chấp giấy tờ, cùng lời khai của ông S thừa nhận chỉ đứng tên giùm bà X trên hợp đồng chuyển nhượng mà không có giao dịch mua bán thực tế.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vũ Đăng Hùng đã phân tích có hệ thống và toàn diện các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo. Thông qua việc phân tích sâu sắc các bản án và vụ việc tranh chấp thực tế, công trình đã làm sáng tỏ bản chất của các giao dịch giả cách phổ biến trong đời sống xã hội hiện nay. Những phân tích về hạn chế của Điều 124, Điều 131 BLDS năm 2015 cùng các đề xuất hoàn thiện lập pháp mang lại giá trị lý luận và ứng dụng thực tiễn cho công tác xét xử và nghiên cứu pháp lý.